DI TÍCH ĐỀN VÀ CHÙA
THÁI
(Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp
Quốc gia)
-----
Khái
quát về địa điểm di tích
Đền
và Chùa Thái tọa lạc tại xã Nguyễn Bỉnh Khiêm (trước đây là xã Trấn Dương, huyện
Vĩnh Bảo), thành phố Hải Phòng. Bốn chữ Hán đắp nổi trên cổng chùa phía ngoài
được phiên ra là “Thái bình tự dã”, được hiểu theo nghĩa nôm là ngôi chùa bên cửa
sông Thái Bình. Tuy nhiên, dân địa phương và vùng lân cận đều gọi là Đền và
Chùa Thái. Đây là một quần thể di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của khu vực
phía Đông Nam của thành phố Hải Phòng, gắn liền với quá trình khai phá, lập
làng của vùng cửa sông được mở ra từ một kỷ nguyên độc lập của quốc gia phong
kiến Việt Nam từ thời Lý Trần.
Theo
các tư liệu lịch sử địa phương, Trấn Dương là vùng đất cổ, thuộc khu vực cửa
biển Thái Bình, nơi hội tụ của các tuyến giao thông thủy bộ quan trọng từ nhiều
thế kỷ trước. Trong quá trình khai hoang, lập ấp và xây dựng làng xã, cư dân
địa phương đã tạo dựng nên nhiều công trình tín ngưỡng, trong đó Đền và Chùa
Thái là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tâm linh quan trọng của cộng đồng.
Quần
thể di tích nằm trong không gian cảnh quan hài hòa, gần các tuyến giao thông
kết nối, không chỉ có giá trị về mặt tín ngưỡng, nơi đây còn là địa chỉ đỏ giáo
dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho các thế hệ nhân dân địa phương.
Đền và Chùa Thái là nơi thờ Phật, ngày giỗ tổ của chùa được ghi nhớ tổ chức vào
ngày 03/3 âm lịch hằng năm.
Ở
Đền và Chùa Thái còn thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, con thứ Đức thánh
Trần Hưng Đạo ở khu vực nhà tổ. Trần Quốc Tảng có công lớn trong sự nghiệp
chống Nguyên mông được triều Trần phong tặng tước đại vương theo sắc phong của
vua Khải Định năm thứ 9, hiện còn được lưu giữ tại đền.
Ở
phía Bắc ngôi chùa còn lại dấu tích của đàn Quốc tế hải thần, một khung nền
gạch xây kiểu Bát tràng cỡ 52x26x5 cm, nguồn gốc từ đời nhà Mạc thế kỷ 16 tạ ơn
hải khẩu vào dịp đầu năm mới. Tục tế thuỷ thần hải khẩu này được các triều đại
phong kiến Lê-Nguyễn duy trì đến cả thời thực dân Pháp mới sang đô hộ nước ta.
Tục tế hải khẩu tại khu vực Trấn Dương đã phản ánh sinh hoạt văn hoá tâm linh
của cư dân ven biển cửa sông cầu mong sự bình an, may mắn trong cuộc sống.
Niên
đại và cấu trúc của công trình
Theo
các cụ già địa phương kể lại, trước đây vùng Trấn Dương đã có ngôi chùa mục
đồng ở dưới chân đê, sau cơn bão nước dâng trôi về pho tượng phật nên lập chùa
thờ. Đến thời kỳ cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi treo ấn từ quan, về
sống tại quê nhà xã Trung Am, ngày ngày cụ Trạng thường bơi thuyền dạo ngắm
cảnh vật, trò truyện với các cụ già làng trong vùng, thấy thế đất khu Trấn
Dương có thế đẹp. Cụ Trạng Trình đã cùng dân làng cắm đất dựng ngôi chùa này
nằm trên bờ đê, chính tại cánh đồng mang tên đại đồng xứ. Tại công văn số
117/NV ngày 10/9/1992 của Hội đồng lịch sử Hải Phòng đã xác nhận: Chùa này là
di tích đời Mạc có liêm quan đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trải qua nhiều
thời kỳ lịch sử cụm di tích Đền và Chùa Thái đã được nhân dân tu sửa nhiều lần.
Cấu trúc của công trình
Cụm
di tích Đền và Chùa Thái là một tổng thể kiến trúc hài hoà từ bố cục mặt bằng
đến cảnh quan thiên nhiên. Di tích nhìn về hướng chính Tây, mặt trước mở ra
cánh đồng lúa bát ngát, bên phải là con sông đào Chanh dương, bên trái là cổ
Dương am đồ sộ chạy dài. Mở đầu cho cụm di tích là gác chuông cao lớn với 3
tầng 8 mái đao cong. Tầng thứ hai là nơi treo quả chuông đồng, bốn mặt trổ cửa
thoáng kiểu tam quan. Gác chuông là biểu tượng của tam tài gồm thiên – địa –
nhân (trời – đất – người). Hai bên gác chuông là dãy tường bao cao xấp xỉ 1,5m
xây theo lối trổ ô thoáng, cong hình cánh cung.
Chùa
nằm bên trái cụm di tích. Bên phải chùa là sân rộng, từ sân lên nền chùa có hệ
thống thành bậc giật 3 cấp. Cuối sân là toà đền cổ cấu trúc hình chữ đinh gồm 3
gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Mặt trước của kiến trúc đền cùng nằm trên
đường thẳng với mặt trước của toà hậu cung chùa. Phía trước gian trung tâm của
đền cách một khoảng bằng chiều rộng của sân (khoảng 35 m) có một giếng mắt rồng
đường kính xấp xỉ 10m là điểm tụ thuỷ, tích phúc cho thế đất. Trước chùa là một
khoảng sân hẹp, rồi thụt xuống khu vườn chùa cây cối xanh um, có tháp mộ sư tổ
hình búp tháp. Bên phải đền là một dãy nhà dọc 5 gian có kiến trúc theo lối
“tân cổ giao duyên”.
*
Chùa Thái: Chùa là một công
trình kiến trúc cổ quy mô vừa phải, được làm hoàn toàn bằng gỗ lim. Chùa gồm ba
toà nhà bố cục theo kiểu “tiền nhất hậu đinh”, gồm 5 gian tiền đường, 3 gian
trung đường và 1 gian hậu đường. Nền các toà nhà được làm giật cấp cao dần từ
bên ngoài vào trong. Mái chùa lợp ngói mũi hài nhỏ, rêu phong cổ kính. Tường
hồi xây theo lối bổ trụ giật 3 cấp chắc khoẻ. Bờ nóc đắp bằng vôi vữa để trơn
không trang trí. Mặt trước toà tiền đường lắp hệ thống cửa gỗ kiểu “cửa tùng
khung cách”.
Toà tiền đường 3 gian đứng vững trên 4 bộ vì kèo gỗ
lim và hai bức tường hồi chắc khoẻ. Mỗi vì kèo gỗ lim có 3 hàng chân cột gồm 1
cột cái và 2 cột quân. Cột cái phía trước được tước bỏ và được thay thế bằng
cột trốn đứng trên lưng quá giang.
Trung đường là toà nhà 3 gian song song với tiền
đường. Nền trung đường cao hơn nền tiền đường khoảng 30 cm, lát gạch Bát tràng.
Cấu trúc các bộ vì kèo toà trung đường cũng tương tự như vì kèo toà tiền đường,
chỉ có 3 hàng chân cột. Dưới xà thương phía sau của ba gian trung đường đều
treo cửa võng lộng lẫy sắc màu, chạm khắc các đề tài tứ linh, tứ quý sinh động,
đầy vẻ quyền quý.
Hậu đường là một gian chuôi về phía sau toà
trung đường. Chiều rộng hậu đường bằng gian trung tâm và 1/2 tả gian, hữu gian
của trung đường. Nền hậu đường được tôn cao 20cm so với nền trung đường.
* Đền Thái: Đền là một toà kiến trúc hình chữ đinh
gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Bộ khung chịu lực chính được làm hoàn
toàn bằng gỗ lim. Mặt trước ba gian giữa lắp hệ thống cửa gỗ cửa tùng cung
khách. Hậu cung đền là nơi đặt ban thờ Đức thánh Trần Quốc Tảng. Tượng Thánh
ngự trên long ngai uy linh, tôn kính. Trước ban thờ Thánh có đầy đủ các nghi
trượng đồ thờ, trông như một cung điện thu nhỏ.
Sự
kiện gắn liền với lịch sử di tích
Tại khu vực chùa ngày 09/1 năm Bính Dần 1926 nhân
dân thôn Dương am đã tập trung để đánh tên Đào Lạng (tri phủ Vĩnh bảo) và quân
gia đinh cắm cọc cướp đất bãi của dân.
Năm 1930, sau cuộc bạo động giết tri phủ Hoàng Gia Mô
tại phủ huyện Vĩnh Bảo, các chiến sĩ quốc dân đảng yêu nước đã rút về chùa Thái
ẩn náu, rồi lên thuyền trốn vào Nghệ An.
Tại khu cống Tây gần đàn Quốc tế, năm 1949 đã diễn
ra trận chiến đấu oanh liệt giữa lực lượng dân quân du kích Trấn Dương chặn
đánh bọn biệt kích gồm cả Pháp, nguỵ, lính dõng từ nhà thờ Đông côn (Tiên Lãng)
tràn sang. Hai chiến sĩ du kích bị hy sinh trong trận đánh này, đồng thời là 2
liệt sĩ đầu tiên của xã Trấn Dương đổ máu vì thắng lợi của công cuộc kháng
chiến kiến quốc.
Sau trận tập kích ở sân bay Cát Bi (07/3/1954), đoàn
dũng sĩ Cát Bi dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ Hải Phòng-Kiến An đã hành
quân bí mật về địa điểm chùa Thái để báo công nghe đọc thư và đón nhận danh
hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi” của Bác Hồ tặng thưởng đơn vị.
Các thế hệ tăng ni, sư sãi của chùa đã che dấu, nuôi
nấng cán bộ hoạt động bí mật. Trong trận càn quét MêDuyn của địch vào năm 1951,
tại khu vườn tre của chùa đã đào hầm chứa 12 cán bộ ẩn náu.
Hiện
vật, di vật còn lại
5.1. Chùa Thái:
Phật
điện chùa Thái được bày trọn trong toà hậu cung. Tượng Pháp trên toà Tam bảo
tuy không đầy đủ, được dồn từ nơi khác về hay do sự hiến cúng của tín đồ, nên
có phong cách nghệ thuật khá đa dạng.
(i) Hàng trên cùng của toà Tam bảo có hàng
tượng Tam thế, tên gọi đầy đủ là
thường trụ tam thế diệu pháp thân, đại diện cho thế giới nhà Phật ở ba đời quá
khứ - hiện tại và vị lai. Tượng thể hiện ngồi toạ thiền trên đài sen ba lớp
cánh ngửa, tay đặt trên lòng đùi trong thế ấn nhập định. Tượng cao 80cm (cả đài
sen cao 100cm). Bộ tượng Tam thế này đã bị
mất hai pho quá khứ và hiện tại, chỉ còn lại một pho vị lai.
(ii) Hàng thứ hai là bộ tượng Di đà tam
tôn gồm Adi đà ngồi
giữa, hai bên là Đại thế chí và Quan thế âm bồ tát. Tượng Adi đà được làm cao
to nhất phật điện, tượng ngồi trong thế nhập thiền trên đài sen, phụ toạ toàn
phần trong thế hình tháp vững chãi. Tượng Quan thế âm và Đại thế chí Bồ tát
được thể hiện đứng trên đài sen.
(iii) Hàng tiếp theo có pho tượng Tuyết
Sơn ngồi giữa, hai bên là tượng
thiên tướng mặc áo giáp trụ, tay cầm binh khí hùng dũng oai nghiêm. Tượng Tuyết
Sơn nhỏ vừa phải (cao 60cm). Tượng ngồi chân trái khoanh lại, chân phải chống
xuống, khuỷ tay phải chống trên gối phải, tay đưa lên chống cằm mang dáng vẻ
suy tư. Tay trái đặt hờ trên đầu gối trái, lòng bàn tay ngửa, các ngón cong lại
trong thế ẩn trừ tà.
(iv) Tượng Đức ông đặt trong khám thờ ngự trên bàn thờ
bên trái toà trung đường. Tượng cao 65 cm, trong tư thế ngồi thiết triều trên
ngai rồng. Mũ phốc đầu thêu lưỡng long chầu nguyệt. Long bào thêu rồng, mây rực
rỡ.
(v) Tượng Tống Thái Hậu ngự tại ban thờ bên phải toà trung
đường, nhân dân địa phương quen gọi là ban thờ Mẫu. Tượng Tống Thái Hậu được
đặt trong long khảm đẹp đẽ, đầu đội “thiên quan” Hoàng Thái Hậu. Tượng khoanh
chân kết già trên bệ gỗ, áo chùm kín chân, tay trái đặt trên đầu gối trái, lòng
bàn tay úp, tay phải đặt trên lòng đùi và các ngón tay cong lại ở thế ấn “kiết
ma”. Tượng cao 90cm, niên đại cuối thế kỷ 19.
(vi) Chuông đồng: Trong toà tiền đường của chùa hiện có
hai quả chuông đồng khá lớn. Quả chuông thứ nhất cao 1,6m, đường kính miệng
0,7m. Quả chuông thứ hai cao 1,58m, đường kính miệng 0,58m. Chuông có hình dáng
tương tự nhau, được đúc ở thời Tây Sơn. Quai chuông là đôi rồng đấu lưng vào
nhau. Đỉnh quai, nơi hai thân rồng gặp nhau được uốn thành hình búp sen. Thân
chuông khắc chìm bài minh chuông bằng chữ Hán.
Ngoài
các di vật giới thiệu trên, nội cung chùa còn bảo lưu được một số di vật khác
như: Đôi ngựa Bạch hồng cao to như thật, 5 chiếc đại tự, 4 nhang án gỗ và gần
chục đôi câu đối cùng các bắt hương bằng gốm sứ.
5.2. Đền Thái:
(i)
Nhang án gỗ: Nhang án hình chiếc bàn 4 chân, thân chia làm nhiều ô trang trí
các đề tài tứ linh, hổ phù theo lối bong kênh, chạm nổi xen lẫn. Đường nét chạm
khắc rất chau chuốt, tỉ mỉ, đạt trình độ cao, niên đại thế kỷ 20.
(ii)
Sắc phong: Di tích đền Thái còn giữ được khá nhiều sắc phong của các vương
triều trước kia ban tặng cho Đức thánh Trần Quốc Tảng như: Quang Trung năm thứ
nhất; Cảnh Thịnh năm thứ 4; Cảnh Hưng năm thứ 3; Vĩnh Khánh năm thứ nhất; Tự
Đức năm thứ 5; Đồng Khánh năm thứ 2; Duy Tân năm thứ 3; Thành Thái năm thứ
nhất; Khải Định năm thứ 4.
(iii)
Tượng các vị Sư Tổ: có 8 pho tượng Tổ của chùa Thái được đặt trên ban thờ ở hữu
gian toà tiền đường của Đền Thái chứ không đặt trong kiến trúc của Chùa Thái.
Trong 8 pho tượng các chư vị Sư Tổ của chùa có 1 pho tượng nữ. Tất cả các tượng
đều được tạo trong tư thế ngồi kiết già, tay kết ấn tam muội, mình mặc áo cà
sa, đầu để trọc, không đội mũ. Mỗi pho tượng có nét mặt riêng rất sinh động như
có vị cười mãn nguyện; có vị đăm chiêu, suy tư; có vị tĩnh tâm tự tại; có vị
thoáng cười cảm thông cứu độ…
Ngoài
ra, trong đền có có 01 bộ Bát biểu niên đại Nguyễn, 2 chiếc dằng gỗ, 01 đôi câu
đối lòng máng, 01 chiếc y môn cửa võng, 4 chiếc đại tự, 01 đôi quán tẩy cao
1,4m niên đại đầu thế kỷ 20.
Hội,
lễ tiết Ngày giỗ tổ của chùa được ghi nhớ tổ chức vào ngày 03/3 âm lịch hằng năm.
Cứ đến dịp giỗ Đức đại vương Trần Hưng
Đạo, chính quyền và nhân dân địa phương lại mở hội lớn trong 03 ngày 20, 21, 22
tháng 8 âm lịch, gọi là Dẫn thánh, để nhớ ơn nhà Trần.
Ngày
12/12/1994, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành Quyết
định số 3211/QĐ-BT, chính thức xếp
hạng Đền và Chùa Thái là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia. Đây
là sự ghi nhận xứng đáng cho vai trò lịch sử - văn hóa - nghệ thuật của Đền và Chùa Thái trong tiến trình hình
thành, bảo vệ và phát triển vùng đất cửa biển Hải Phòng.