CHÙA MÉT
(Di tích nghệ thuật cấp Quốc gia)
-----
Khái quát về di tích
Chùa Mét tên chữ là Thiên Hương tự,
thuộc địa bàn xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay thuộc xã Vĩnh
Am, thành phố Hải Phòng). Chùa Mét cách trụ sở UBND xã Vĩnh Am khoảng 1km.
Cổ Am được nhiều người biết đến bởi
nơi đây nổi tiếng là vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa, khoa
bảng. Nói về truyền thống đỗ đạt khoa cử ở nước ta dân gian có câu "Đông
Cổ Am, Nam Hành Thiện". Trong không gian văn hóa của vùng đất Vĩnh Bảo
xưa, chùa Mét có mối liên hệ với cuộc đời của Danh nhân văn hóa Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), người con kiệt xuất của vùng đất Vĩnh Bảo.
Chùa Mét đã từng là một trung tâm
Phật giáo của cả vùng và hàng năm cứ vào 3 tháng hè, các vị tăng, ni trong vùng
tập trung về đây ngồi hạ.
Trong kháng chiến chống Pháp, chùa
là cơ sở đóng quân, mở lớp huấn luyện quân chính trước khi Nam tiến của đội vệ
Quốc Đoàn thuộc chiến khu Đông Triều. Nơi đây đã chứng kiến trận mở đầu chống
Pháp của du kích Cổ Am và nhiều năm là cơ sở bám dân, bám đất của cán bộ, Đảng
viên xã Cổ Am.
Nhân vật được tôn thờ tại Chùa Mét
Chùa Mét là nơi thờ Phật, thờ Tổ họ Trần và thờ
Đức ông. Theo tư liệu được lưu giữ, Chùa được khởi công xây dựng vào cuối triều
Trần (1226 - 1400), do cụ Trần Khắc Trang xây dựng vào giữa thế kỷ XIX. Hiện
nay, chùa Mét còn giữ được một tấm bia đá khá lớn (130cm x 86cm x 19cm) dựng
năm Tự Đức nhị niên (1849). Khi cụ viên tịch, được Nhân dân địa phương suy tôn
là vị tổ thứ nhất của chùa. Đương thời Phật giáo được coi là Quốc giáo, chùa có
quy mô khá lớn theo truyền thống kiến trúc chùa làng của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Niên đại và cấu trúc của công trình
Trải qua thời gian chiến tranh,
thiên tai và tác động của thời gian, các công trình kiến trúc xưa cũ của chùa phần
lớn không còn giữ được nguyên trạng. Những công trình kiến trúc hiện tồn mang
phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (1802-1945). Theo trí nhớ của các cụ già địa
phương và căn cứ vào dòng chữ Hán khắc ghi trên câu đầu toà điện Phật:
"Quý Sửu niên tu tạo", "Hoàng Khải Định bát niên" thì chùa
Mét được trùng tu lớn vào các năm 1853 và 1923.
Hiện nay chùa Mét có bố cục mặt bằng
như sau: trước chùa là một khoảng sân rộng, lát gạch tương đối bằng phẳng, tiếp
đó đến khu vườn Thiền, cây cối xanh tốt. Trong khu vườn Thiền có 4 ngôi tháp mộ
xây bằng gạch 3 tầng, cao xấp xỉ 5m, kích thước cạnh đáy 2,6m x 2,6m, mái tháp
được làm tương tự mái long đình (4 mái khum), đỉnh mái đắp nụ sen trên đấu
vuông thót đáy.
Nhìn từ phía trước tiền đường toà
điện phật 7 gian và toà nhà thờ Tổ 7 gian nối liền nhau tạo thành hình chữ nhật
(-). Riêng toà phật điện lại có bố cục hình chữ sơn (山), hiếm thấy trong các công trình kiến trúc - nghệ thuật cổ
ở nước ta: toà tiền đường 7 gian, phía sau tiến đường nhô ra 3 dãy nhà hình
chuôi vồ (khối giữa 4 gian, hai khối bên, mỗi bên 3gian).
Các công trình kiến trúc của chùa
Mét được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc chắc khoẻ. Bờ nóc đắp bằng vôi
vữa để trơn không trang trí gì, giữa bờ nóc tiền đường Điện Phật dựng bức đại
tự đắp nổi 3 chữ Hán lớn "Thiên Hương tự". Mái lợp ngói vảy rồng rêu
phong cổ kính. Phía trước có hiên thấp và hẹp được bó bằng những phiến đá xanh
mài nhẵn. Mặt trước Điện Phật và Nhà Tổ lắp hệ thống cửa gỗ làm theo lối
"cửa trùng cung khách" quen thuộc.
* Kiến trúc và trang trí kiến trúc toà Điện Phật.
Toà Điện Phật là một công trình kiến
trúc bằng gỗ lim, bố cục bằng theo lối chữ Sơn gồm 7 gian tiền đường, 4 gian
Tam Bảo, 3 gian thờ Tổ họ Trần và 3 gian thờ Đức Ông. Các cung cấm hình chuôi vồ
phía sau được ngăn cách với nhau bởi tường gạch.
Toà tiền đường 7 gian đứng vững trên
8 vì kèo gỗ lim và 2 tường hồi bít đốc. Các vì kèo được làm tương tự nhau. Mỗi
vì kèo gồm 4 hàng chân cột gồm 2 cột cái và 2 cột quân, thường gọi là vì tứ
hàng chân. Các cột đều thẳng tắp, đường kính từ 23 đến 27 cm và được kê trên
chân tảng bằng đá. Một số cột khắc ghi tên người tiến cúng bằng chữ Hán. Nối
cột cái với cột quân là một xà nách bào soi. Trên lưng xà nách người ta dựng vì
cốn mê bằng ván gỗ dày, cạnh cốn mê khoét lõm đội các đôi hoành thứ 4, 5, 6, 7.
Đôi hoành thứ 8 nằm trên đầu cột quân. Từ cột quân lao ra một bảy hiên ngắn,
đầu bảy đỡ tàu đao của mái đua, lưng bảy lắp ván lá dong đội đôi hoành thứ 9.
Các hoành mái đều vuông vức, phân bố theo tỷ lệ "thượng tứ hạ lục".
Toà Tam Bảo là 4 gian chuôi vồ về
phía sau tiền đường. Chiều rộng của toà Tam bảo bằng gian trung tâm và 1/2 tả
gian, hữu gian tiền đường. Toà nhà được tạo bởi 5 vì kèo gỗ, một tường hồi đốc
và 2 bức tường gạch kèm hai bên. Mỗi vì kèo chỉ có hai cột cái, còn hai cột
quân được thay bằng hai bức tường bên. Các vì kèo được làm theo kiểu vì cốn mê
bằng ván gỗ dày. Trang trí chủ yếu sử dụng hình thức cửa võng, đại tự, cuốn thư
tương tự nhà tiền đường.
Toà Cung cấm thờ Trần Khắc Trang và
toà cung cấm đặt ban thờ Đức ông là các kiến trúc chuôi vô kèm hai bên tả, hữu
cung Tam Bảo, mỗi toà ba gian. Chiều rộng của các cung này bằng kích thước của
toà Tam Bảo, được ngăn cách với toà Tam Bảo bằng bức tường xây dầy 20cm. Nghệ
thuật kiến trúc và trang trí kiến trúc của toà thờ Tổ Trần Khắc Trang, toà thờ
Đức ông tương tự như toà Tam Bảo.
* Kiến trúc và trang trí kiến trúc toà nhà Tổ
Toà nhà Tổ 7 gian cũng được làm hoàn
toàn bằng gỗ lim. Toà nhà Tổ được tạo bởi 8 vì kèo gỗ, 6 vì kèo giữa và 2 vì
kèo sát hồi được làm tương tự nhau. Mỗi vì kèo có 5 hàng chân cột gồm 2 cột cái,
2 cột quân và 1 cột hiên phía sau. 6 vì giữa được làm theo lối "kẻ truyền bảy
hiên" đơn giản: từ đầu cột cái (hay cột trốn ở hai vì trung tâm) nhô lên
một kẻ bào soi, một đầu kẻ khớp mộng cá vào thân cột, đầu kia của kẻ khớp với
nhau tạo thành góc vuông để đội xà nóc. Một kẻ tương tự nối tiếp, kẻ này kéo
dài xuống khớp mộng trên lưng xà nách. Trên lưng kẻ người ta lắp hệ thống lá
dong bằng ván gỗ dày, khoét lõm để đội các đôi hoành mái.
Hai vì kèo sát hồi mới được gia cố
sau này, chúng khác hẳn các vì kèo kia cả về chất liệu, kích thước và kết cấu
kiến trúc. Hai vì này không sử dụng cột cái mà chỉ có cột chốn đứng trên đấu
lửng bằng bê tông gắn trên tường hồi.
Kết cấu bẩy hiên toà nhà tổ tương tự
ở toà tiền đường Điện Phật. Khác với Điện Phật, vì kèo mái sau nhà tổ có thêm
một kẻ cổ ngỗng nối từ cột quân ra cột hiên. Liên kết dọc của ngôi nhà vẫn là
hệ thống xà thượng và xà hạ quen thuộc.
Hiện vật và di vật còn lại
1. Di vật ở toà Tam Bảo
1.1- Bộ tượng Tam Thế: 3 pho, kích
thước cao 70cm, ngồi trên đài sen 3 lớp cánh ngửa cao 20cm, niên đại Thế kỷ
XVII.
1.2- Bộ Di Đà Tam Tôn: Tượng A - Di
- Đà ngồi giữa cao 90cm, đài sen cao 20cm, hai bên là tượng Quan Thế âm Bồ tát
và Đại Thế chí Bồ tát cao 70cm, đài sen cao 20cm. Niên đại cuối Thế kỷ XVIII đầu
Thế kỷ XIX.
1.3- Bộ tượng Thích ca tam tôn: gồm
tượng Thích ca niệm hoa có khuôn mặt tương tự tượng Đông Đô Lịch Đại Tổ ngồi
thiên trên đài sen, hai bên là Văn Thù và Phổ Hiền bồ tát đứng chầu. Tượng cao
xấp xỉ 1m. Niên đại đầu Thế kỷ XIX.
1.4- Tượng Quan âm Chuẩn Đề: Tượng
cao 80cm với 7 đôi tay, được thể hiện trong tư thế ngồi thiên trên đài sen.
Tượng được tạc theo khuôn mẫu chuẩn mực của "tam quan diện muội",
"Thích Ca đồ" nhà Phật rất cân đối và đầy vẻ từ tâm. Niên đại cuối Thế
kỷ XVIII.
1-5- Bộ tượng Ngọc Hoàng và Nam Tào,
Bắc Đẩu: Tượng cao 1,10m, trong tư thế ngồi thiết triều trên long ngai. Đài sen
của các pho tượng đều được đặt trên bệ gỗ mặt cắt dọc hình chữ công, sơn son
thếp vàng chạm khắc tứ linh, tứ quý...
2. Di vật ở ban thờ Đức ông
2.1- Tượng Thành Tăng: Đầu đội mũ
thất Phật mặt bầu bĩnh, nhân từ, tai to, dáy tai dây, mũi dọc dừa, miệng ngậm,
môi mỏng, mắt khép hờ nhìn xuống soi rọi nội tâm. Tượng cao 1,10m. Niên đại
cuối Thế kỷ XVIII.
2.2- Tượng quan âm: Thể hiện trong
tư thế ngồi trên cùng hàng tượng với Thánh Tăng. Tay phải đặt trên đùi phải,
lòng bàn tay úp. Tay trái đưa ra ngang ngực, lòng bàn tay hơi quay vào trong,
các ngón cong lại trong tư thế ấn hàng phục quỷ dữ. Tóc búi cao, dải khăn xoè
chấm vai. Tượng khoác áo cà sa hở ngực, lộ yếm thanh y và khăn bao thắt nút
hình hoa. Mặt đậm nét chân dung.
2.3- Tượng Đức ông (tên nhà Phật là
Cấp Cô Độc): Tượng mang hình bóng của một viên quan đương thời. Mặt phương phi,
quắc thước, lưỡng quyền cao. Tượng thể hiện ngồi trên bệ ngọc, tay phải cầm bút
đặt trên gối phải. Tay trái cầm cuốn sách đặt trên gối trái, lòng bàn tay ngửa.
Tượng cao 1,05m. Niên đại giữa Thế kỷ XIX.
2.4- Tượng Kim Đồng: 2 pho. Tượng
thể hiện trong tư thế ngồi trên bệ ngọc, cao 60cm, đặt kèm hai bên tượng Đức
ông. Một pho mặc võ phục kiểu giáp trụ của thiên tướng nhà trời, giống như
trang phục của các tượng Hộ Pháp, Kim Cương trong chùa. Pho kia mặc áo cà sa
nhà Phật, hai tay chắp trước ngực cung kính.
3. Di vật tại ban thờ tổ Trần Khắc Trang. Bài vị: 5 chiếc. Trong đó có bài vị Trần Khắc Trang và phu
nhân được đặt trong long khám. Niên đại Thế kỷ XIX; Long khám: 3 chiếc, niên
đại thế kỷ 19; Nhang án gỗ: 1 chiếc, niên đại Thế kỷ XIX; Đồ lỗ bộ: 1 bộ gồm 8
gươm, 2 chuỳ.
4. Di vật tại nhà thờ tổ: Tượng
tổ: 6 pho, trong đó có 1 pho tượng Bồ Đề Đạt Ma và 5 pho tượng tổ chùa.
5. Các di vật đáng quan tâm khác: Bia đá: 3 tấm, niên đại thời Nguyễn; Cửa võng: 12 chiếc, chạm
nổi và chạm thủng các đề tài tứ linh, tứ quý; Y môn : 9 chiếc; Cuốn thư: 12 chiếc, chạm nổi đồ án
lưỡng long chầu nguyệt, phượng múa, rùa đội sen, lão trúc hoá long chầu hoa cúc
mãn khai, trùng lộc (cây thông và con hươu); Đại Tự : 5 tấm; Câu đối : 12 đôi. Trong đó 2 đôi ca ngợi công tích dòng họ Trần
của Trần Khắc Trang; Chuông đồng: 1 quả. Cao 1,24m, đường kính miệng 0,56m.
Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Chùa Mét không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo mà còn
là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, tâm linh sâu sắc. Ngôi chùa đã trở thành
một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân địa phương. Hàng
năm, chùa Mét tổ chức nhiều lễ hội truyền thống như lễ Phật đản, lễ Vu lan...
thu hút đông đảo người dân đến tham dự.
Ngày nay, chùa Mét không chỉ là một địa điểm tâm linh mà còn
là một điểm du lịch hấp dẫn, thu hút Nhân dân, nhiều du khách đến tham quan,
tìm hiểu về lịch sử và văn hóa của ngôi chùa.
Xét giá trị lịch sử văn hoá nghệ
thuật mà ngôi chùa đang hàm chứa, ngày 04/12/1998, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định số 3518/1998-QĐ-BVHTT công
nhận Chùa Mét là Di tích nghệ thuật cấp Quốc gia./.