ĐỀN TAM KỲ
(Di tích Lịch sử cấp thành phố)
Đền Tam Kỳ được toạ lạc trên địa bàn phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Đền còn được gọi là đền Cửa sông, bởi đền nằm ngay cửa sông (tên gọi khác là đền Bắc đền có hướng nhìn ra phía Bắc). Đền nằm cách trung tâm thành phố khoảng gần 01 km. Đây là công trình kiến trúc, văn hóa tín ngưỡng của người dân địa phương và của cả thành phố Hải Phòng. Đền là nơi tôn thờ các vị thần có công lao với đất nước, với nhân dân, đồng thời đền còn là không gian tổ chức các dịp sự lệ liên quan đến các ngài hàng năm, cho nên đền Tam Kỳ có giá trị văn hoá sâu sắc.
Đền Tam Kỳ vốn là một ngôi miếu nhỏ thờ Thuỷ Thần, được khởi dựng từ lâu đời trên gò đất cao ở ngã ba sông Tam Bạc (tên gốc là Trạm Bạc) với lạch Liêm Khê thuộc địa phận làng An Dương, tổng An Dương, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương (năm 1813); nay là phường Cát Dài, quận Lê Chân (từ năm 1981). Đến niên hiệu Thành Thái thứ 2 (1890) văn bia vẫn ghi là miếu.
Năm 1920, lập thêm đền thờ Tứ vị Thánh Mẫu (Tứ Phủ) và được văn bia ghi là “Tam Kỳ linh ứng bi ký”. Cũng thời gian này, dân làng An Dương rước chân nhang ở đền Kiếp Bạc về thờ vọng Hưng Đạo Vương, bởi theo tương truyền kể lại, trước đây bãi cửa sông có một đạo quân của Trần Hưng Đạo đóng, sau dân lập miếu thờ. Chiến tranh chống Pháp (1945) đền đã bị đổ. Năm 1951, các ông trong ban quản trị Hội Thiện Tam Kỳ là Trần Công Lai, Nguyễn Văn Cát, Bùi Văn Thu, Nguyễn Ngọc Cảnh và bà Đặng Thị Nghênh đứng lên làm hưng công, bỏ tiền và quyên góp dân làng để tu sửa lại đền. Đến thời giặc Mỹ bắn phá (1965-1972), ngói đền tụt hết, tường đổ, bà Quách Thị Hà bỏ tiền riêng lợp lại ngói và tu sửa lại đền. Năm 1975, tạm ngưng hoạt động thờ tự. Sau đó cụ Phạm Văn Chủng (Nhạc phụ ông Của, thủ nhang hiện nay) trông nom, hương đăng đền. Từ năm 1997 đến nay, ông Đào Đình Của làm thủ nhang đền.
Hiện nay, đền Tam Kỳ là một công trình kiến trúc mới được phục dựng trên nền cũ từ năm 2007 (khánh thành tháng 2 năm 2008). Kiến trúc theo kiểu hiện đại 2 tầng; tầng dưới làm phòng khách; tầng trên làm nơi thờ Thánh. Tầng trên được chia làm 3 toà nhà chung tường, gồm: tòa tiền đường, tòa trung đường và tòa hậu đường. Trong đó, toà hậu đường kiến trúc làm theo kiểu thức chồng diêm nóc các. Tòa trung đường, kiến trúc 3 gian, 4 bộ vì, vì nóc mái kiểu thức biến thể chồng rường giá chiêng. Tòa tiền đường gồm 3 gian, 4 bộ vì, trong đó, hai bộ vì gian giữa gồm vì nóc “Chồng rường giá chiêng”; vì nách “Chồng rường trụ trốn”. Toà hậu cung, ban giữa thờ Quan lớn Đệ Tam; bên tả ban thờ chúa Sơn Trang; bên hữu ban thờ Đức Thánh Trần. Toà trung đường thờ Tam toà Thánh Mẫu. Toà tiền đường thờ Ngũ vị Tôn ông (từ quan lớn đệ nhất đến quan lớn đệ ngũ); Ban dưới thờ các quan hoàng Bơ ở giữa, hai bên có quan Hoàng Bẩy và quan Hoàng Mười. Ngoài ra, đền Tam Kỳ còn có một gian nhỏ bên hữu tiền đường thờ Phật bà Quan Âm.
Trải qua thời gian lịch sử, đền Tam Kỳ còn lưu giữ được 3 bia kí cổ cùng nhiều hiện vật, đồ thợ tự như: khám thờ, nhang án, hoành phi, câu đối...các tượng thờ như: Tượng Quan lớn Đệ Tam, tượng Đức Thánh Trần, tượng Tứ Phủ (4 vị Thánh Mẫu), tượng Ngũ vị Tôn ông, tượng quan Hoàng Bơ, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười, tượng Phật Bà Quan Âm…Đó là những hiện vật quý, có giá trị làm minh chứng cho lịch sử của ngôi đền, đồng thời là những vật chất sống động thể hiện cho nền văn hoá, lịch sử lâu đời và tốt đẹp của làng An Dương xưa.
Hàng năm, các dịp lễ được tổ chức trong 01 ngày vào các ngày âm lịch hàng năm, cụ thể như: ngày 11 tháng Giêng là lễ thượng nguyên; ngày 14 tháng 4 là lễ nhập hạ; ngày 11 tháng 7 là lễ tán hạ; ngày 11 tháng 12 là lễ tất niên (lễ tạ cả năm). Lễ theo sự lệ các Thần là ngày 3 tháng 3, tiệc Mẫu; ngày 25 tháng 5, tiệc Quan lớn Tuần Tranh; ngày 24 tháng 6, tiệc quan lớn Bơ Phủ; ngày 20 tháng 8, tiệc Đức Thánh Trần; ngày 10 tháng 10, tiệc ông Hoàng Mười. Trong các dịp lễ không có tổ chức tế lễ và không tổ chức các trò chơi dân gian truyền thống tại đền Tam Kỳ.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020, Uỷ ban nhân dân thành phố ra quyết định số 155-QĐ/UBND công nhận đền Tam Kỳ là Di tích Lịch sử cấp thành phố.