Thành phố Hải Phòng
Tiến sĩ Đoàn Trường Sơn
Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Hải Phòng
Thành phố Cảng Hải Phòng là đô thị loại I trung tâm cấp quốc gia, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước. Địa danh tỉnh Hải Phòng - thành phố Hải Phòng được xác lập vào cuối thế kỷ 19. Ngày 11/9/1887, tỉnh Hải Phòng được thành lập. Một năm sau, ngày 19/7/1888, thành phố Hải Phòng (nằm trong tỉnh Hải Phòng) thành lập, được xếp loại 1 như Hà Nội và Sài Gòn. Ngày 1/10/1888, vua Đồng Khánh ra Đạo dụ nhượng hẳn thành phố Hải Phòng cho Pháp. Tỉnh lỵ Hải Phòng chuyển sang Phủ Liễn. Ngày 31/1/1898, thành phố Hải Phòng tách khỏi tỉnh Hải Phòng và tỉnh Hải Phòng đổi tên là Phủ Liễn, sau là Kiến An. Tháng 11 năm 1946, Hải Phòng và Kiến An hợp nhất lấy tên là Liên tỉnh Hải – Kiến, tháng 12 năm 1948, lại tách ra như cũ. Tháng 12/1962, Thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An hợp nhất lấy tên là thành phố Hải Phòng
Tính đến năm 2010, Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 1.519,2 km
2, dân số 1.842,8 nghìn người, gồm 15 đơn vị hành chính: các quận Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh; các huyện Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương, Kiến Thụy và 2 huyện đảo Cát Hải, Bạch Long Vĩ.
Xưa, địa bàn Hải Phòng gồm toàn bộ các huyện ven biển của xứ Hải Dương và huyện đảo Cát Hải (thuộc xứ An Quảng). Hải Phòng còn là trung tâm Dương Kinh triều Mạc (thế kỷ XVI).
Địa chất, địa hình Hải Phòng đa dạng và phong phú, tạo thành một tổng thể, là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của thành phố và quốc gia.
Địa tầng ở Hải Phòng chủ yếu gồm các trầm tích Paleozoi và Kainoxoit. Giới Paleozoi gồm: Hệ Silua thống thượng - hệ Đêvôn thống hạ, hệ tầng Xuân Sơn (S2.D1 xs); Hệ Đêvôn thống hạ, hệ tầng ĐS (D1ds); Hệ Đêvôn thống hạ - trung, hệ tầng Dưỡng Động; Hệ Đêvôn thống trung - bậc Givet, diệp Lỗ Sơn; Hệ Cácbon thống hạ, hệ tầng Cát Bà; Hệ Cácbon, thống trung - thượng - hệ Pecmi, hệ tầng lưỡng kì. Giới Kainozoi gồm: Hệ Neogen với hệ tầng Bạch Long Vĩ tuổi Minõen muộn - Plioxen sớm, điệp VB tuổi Plioxen; Các trầm tích Đệ Tứ gồm: các trầm tích tuổi Pleixtexen giữa - muộn (QII - III), các trầm tích tuổi Pleixtexen muộn - phần muộn (QIII), các trầm tích Holoxen muộn (QIV), v.v..
Cấu trúc địa chất của Hải Phòng chia làm hai khu vực rõ rệt: Khu vực Đông Bắc thuộc phức nếp lồi Quảng Ninh, là một dải hình lưỡi liềm bao các quần đảo ven bờ Đông Bắc và dải lục địa ven biển kéo dài từ Móng Cái qua Hòn Gai đến Đồ Sơn - Kiến An, vòng sang phía Tây tới Phả Lại - Vĩnh Yên; Khu vực Tây Nam thuộc võng địa hào Hà Nội, hình thành vào thời Đệ Tam. Sự hình thành và biến đổi vùng đất ở Hải Phòng chịu tác động của một số hiện tượng vẫn diễn ra hiện nay gồm: Caxtơ, xói lở, tích tụ trầm tích, động đất và chuyển động kiến tạo hiện đại.
Hình thái địa hình của Hải Phòng được chia làm 3 khu vực tương đối rõ: 1)
Lục địa và các đảo, gồm: Vùng núi thấp chia cắt mạnh (chiếm 10% diện tích thành phố, phân bố ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và một số đảo khác trong vịnh Lan Hạ, Hạ Long); Vùng đồi chia cắt mạnh (chiếm 5% diện tích, tập trung chủ yếu ở Bắc huyện Thuỷ Nguyên), chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam; các đồi núi chủ yếu gồm: núi Đèo cao 146m, Phi Liệt cao 146m, Mỏ Vịt cao 116m, Mã Chàng cao 114m, Doãn Lại cao 109m, Hạ Côi cao 108m, vv.; Vùng đồi bằng phẳng (chiếm 85% diện tích, trải ra trên các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Dương, các quận Kiến An, Đồ Sơn, Hải An, phía Nam huyện Thuỷ Nguyên và nội thành Hải Phòng). 2)
Đới bờ biển hiện đại gồm hai vùng khác biệt về hình thái: Vùng đới bờ dốc, chia cắt rất mạnh (phân bố ở vùng Cát Bà, Long Châu, Bạch Long Vĩ, dài khoảng 200 km); Vùng đới bờ thoải, chia cắt tương đối mạnh (kéo dài từ Phù Long đến cửa sông Thái Bình, dài khoảng 100 km. 3)
Đới bờ cổ bị ngập nước gồm 4 vùng
: Vùng đồng bằng bằng phẳng ven đới bờ hiện đại (chiếm phần lớn diện tích Hải Phòng); Vùng đồng bằng dạng sóng gần đảo Bạch Long Vĩ (phân bố thành một dải rộng 20 - 60 km); Vùng đồng bằng bằng phẳng trung tâm vịnh Bắc Bộ; Vùng đồng bằng dạng sóng đáy vịnh Lan Hạ, Hạ Long (phân bố trong vùng biển kín vịnh Lan Hạ, Hạ Long).
Mạng lưới sông ngòi ở Hải Phòng có mật độ dày đặc, đều là hạ lưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình sau khi chảy qua địa phận tỉnh Hải Dương. Các sông lớn gồm: Bạch Đằng, Hàn, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Mía, Mới, Thái Bình, Luộc, Hoá… và các sông nhánh: Chung Mỹ, Lịch Sỹ, Giá, Trạm Bạc, Đa Độ, Kinh Đông v.v.. Hầu hết các sông lớn đều là sông nhánh cấp 2 hoặc cấp 3 của hệ thống sông chung, hướng chảy chủ yếu là tây bắc - đông nam với độ uốn khúc lớn.
Biển là yếu tố tự nhiên nổi bật nhất của Hải Phòng, nhân tố tác động thường xuyên đến nhiều quá trình xảy ra trong thiên nhiên và ảnh hưởng quan trọng đến nhiều hoạt động xã hội. Bờ biển Hải Phòng dài hơn 120 km. Vùng nước bên ngoài là một dải hẹp rộng khoảng 31 km, nằm giữa hai đường song song 20
038’00’’bắc và 22
055’00’’bắc; rìa phía đông cách bờ khoảng 130 km, tiếp với vùng biển Trung Quốc, bên ngoài kinh tuyến 103
000’00’’đông. Diện tích toàn vùng trên 4.000 km
2, phần lớn sâu không quá 20m, bao quanh hệ quần đảo ven bờ Cát Bà, Thượng Mai, Hạ Mai, Long Châu, Hòn Dấu, nơi sâu nhất không quá 40 m. Riêng đảo Bạch Long Vĩ rộng trên 2 km
2, tâm đảo nằm ở toạ độ 20
007’00’’bắc, 107
043’00’’ đông ngang cửa sông Hồng,
cách cửa Ba Lạt 126 km và cảng Hải Phòng 136 km về phía Tây nam
Hải đảo - các đảo Cát Hải, Cát Bà và Bạch Long Vĩ - là một bộ phận quan trọng về kinh tế, quốc phòng của thành phố và toàn quốc gia. Đảo Cát Hải là một đảo cát bằng phẳng, nằm giữa cửa Nam Triệu và Lạch Huyện tạo thành một vùng sinh thái đặc hữu nơi cửa biển Hải Phòng. Quần đảo Cát Bà, gồm hơn 300 đảo lớn nhỏ, có rừng Quốc gia và là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đảo Bạch Long Vĩ - đuôi rồng trắng - như hòn ngọc giữa biển khơi, một điểm dịch vụ nghề cá lớn tại vịnh Bắc Bộ.
Đặc điểm đất, biển, đảo đã tạo cho Hải Phòng có hệ thống thực vật phong phú, đa dạng, nhiều loài quý hiếm, tập trung trên đảo Cát Bà, có tiềm năng lớn về thuỷ, hải sản.
Dân cư: Hải Phòng là vùng đất ven biển, được hình thành sớm, nên suốt chiều dài lịch sử - từ tiền sử đến thời hiện đại - luôn có dân cư các địa phương khác đến sinh cơ lập nghiệp. Các di chỉ Cái Bèo (Cát Bà), Tràng Kênh, Việt Khê (Thuỷ Nguyên), núi Voi (An Lão) cho biết tại Hải Phòng, từ thời kỳ đồ đá cũ đến thời kỳ đồ đồng, đã có người Việt cổ sinh sống, góp phần tạo nên văn hoá Hạ Long, Phùng Nguyên, Đông Sơn nổi tiếng. Do những biến cố lớn lịch sử, xã hội, tự nhiên và công cuộc khai hoang lấn biển, ở Hải Phòng thường có những đợt thiên di lớn. Tiêu biểu là vào đầu công nguyên, sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất (năm 938), lần thứ hai (năm 981), lần thứ ba (năm 1288) và cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Khi Pháp đánh chiếm Hải Phòng, quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi lớn về thành phần cư dân, ngoài người Hải Phòng gốc còn có dân từ các tỉnh và người nước ngoài đến sinh sống. Sự biến đổi đó còn kéo dài đến ngày nay.
Văn hoá: Khi cộng đồng làng xã hình thành và ổn định thì văn hóa làng xã có điều kiện phát triển khá phong phú. Nhiều công trình kiến trúc được xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử mà chứng tích còn lưu lại đến nay đã thể hiện tài năng của người Hải Phòng như tháp Tường Long, chùa Vân Bản, chùa Dư Hàng, chùa Hoà Hy, đình Hàng Kênh, đình Cung Chúc, đình Kiền Bái, đình Đôn Lương, đình Gia Lộc, đền Nghè, từ Lương Xâm, miếu Cựu Điện...
Hải Phòng cũng là nơi bảo tồn được nhiều loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian đặc sắc. Xã Đồng Minh (Vĩnh Bảo) là quê hương của múa rối (gồm rối nước, rối cạn, rối pháo) cũng là nơi có nghề điêu khắc, tạc tượng nổi tiếng. Hát đúm ở Phục Lễ, Phả Lễ, ca trù Đông Môn (Thuỷ Nguyên)...
Các lễ hội đều gắn liền với những hình thức thể thao dân gian rất phổ biến như chọi trâu, đua thuyền trên biển, bơi lội, đánh vật, đánh đu, vật cầu, thi pháo đất... thể hiện tinh thần thượng võ. Hội chọi trâu ở Đồ Sơn nổi tiếng trong và ngoài nước, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Về truyền thống khoa bảng xưa, Hải Phòng thuộc tỉnh Đông nổi tiếng học hành đỗ đạt. Cho đến cuối thế kỷ 19, theo thống kê chưa đầy đủ, vùng đất Hải Phòng mới có gần 100 vị đỗ đại khoa, trong số đó lại có 3 trạng nguyên: Lê Ích Mộc (Thanh Lãng, Thuỷ Nguyên) đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Tuất (1502) triều Lê Hiến Tông, Trần Tất Văn (Nguyệt Áng, An Lão) đỗ trạng nguyên khoa Bính Tuất (1526) triều Lê Cung Hoàng và Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trung Am, Vĩnh Bảo) đỗ trạng nguyên khoa ất Mùi (1535) triều Mạc Thái Tông.
Đặc biệt, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là cây đại thụ của nền văn học Việt Nam thế kỷ 16 mà bóng còn toả rợp sang cả thế kỷ 17 và nửa đầu thế kỷ 18. Học vấn uyên bác của ông cùng với nhân cách cao đẹp đã được người đương thời kính phục, ngưỡng vọng, coi là bậc thầy của cả một thời đại và tôn ông là Tuyết Giang phu tử (đánh giá của đồng chí Trường Chinh). Chính Nguyễn Bỉnh Khiêm khi về ở ẩn, dựng am Bạch Vân, mở trường dạy học đã làm cho Vĩnh Bảo trở thành một trung tâm văn hóa, giáo dục nổi tiếng, thu hút sĩ tử của nhiều miền trong nước đến theo học, trong đó có nhiều người thành đạt như Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ...
Lao động chân tay, lao động trí óc, lao động nghệ thuật của người Hải Phòng qua hàng nghìn năm đã tạo dựng nên những thành tựu văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần khá phong phú. Những truyền thống văn hóa ấy trở lại góp phần hun đúc cho con người Hải Phòng ngày nay: những công nhân có tay nghề cao, những nông dân thâm canh giỏi, những nghệ nhân nổi tiếng và những trí thức tài năng... Truyền thống văn hóa lâu đời là cơ sở tạo nên tính năng động sáng tạo, luôn luôn nhạy bén với cái mới của người Hải Phòng.
Hải Phòng có điều kiện để trở thành một trung tâm văn hóa vì hai đặc điểm cơ bản: còn bảo lưu được truyền thống văn hoá dân tộc và sự giao thoa, tiếp xúc với văn hóa phương Đông và phương Tây từ sớm, khi Hải Phòng bước vào đô thị hoá. Ngày nay, trên cơ sở phát huy mặt tích cực trong văn hóa truyền thống, Hải Phòng đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Trên địa bàn thành phố có 4 trường đại học, hàng chục trường cao đẳng, dạy nghề chất lượng cao, 3 viện nghiên cứu... Số học sinh đỗ đại học hằng năm, số người có học hàm, học vị cao đứng vào tốp đầu của cả nước. Hải Phòng phấn đấu từng bước trở thành một trong những trung tâm văn hoá - giáo dục - khoa học của quốc gia.
Tiềm năng kinh tế: Hải Phòng, một trung tâm kinh tế trọng điểm của khu vực phía Bắc và có tiềm năng rất lớn. Nền kinh tế chủ yếu là công nghiệp, nông - lâm nghiệp, thuỷ sản và thương mại - dịch vụ. Từ đầu thế kỷ 20, Hải Phòng đã trở thành đầu mối giao thông quan trọng, gồm hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường hàng không, nối với các miền trong nước, nam Trung Hoa và quốc tế… Cảng Hải Phòng được xây dựng năm 1874 và nay thêm các cảng mới Chùa Vẽ, Đoạn Xá, Vật Cách… Dự án Cảng nước sâu quốc tế Lạch Huyện đã được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn và đang được tích cực triển khai. Hệ thống Cảng biển này giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và thành phố. Đường sắt Hải Phòng - Vân Nam (Trung Quốc) được xây dựng năm 1902. Sân bay Cát Bi xây dựng năm 1912, được nâng cấp nhiều lần. Đường số 5, nối thành phố Cảng với Thủ đô Hà Nội, được xây dựng năm 1905. Nay, dự án đường ôtô cao tốc Hải Phòng - Hà Nội đang được triển khai sẽ tạo thuận lợi mới cho trục giao thông quan trọng này. Đường số 10, nối đồng bằng châu thổ Bắc Bộ với Hải Phòng và vùng mỏ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng duyên hải đầy tiềm năng. Hải Phòng còn có hệ thống đường sông rất quan trọng, nối Cảng với hầu hết các địa phương miền Bắc.
Sản phẩm công nghiệp Hải Phòng chủ yếu là sắt thép, vật liệu xây dựng (xi măng), giày dép, cơ khí, đóng tàu, điện, điện tử, chế biến và nhiều mặt hàng tiêu dùng khác. Trên địa bàn hình thành các khu kinh tế, khu công nghiệp đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI), với số vốn đăng ký hơn 3,2 tỷ USD (2012). Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi, đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ, hải sản. Thương mại - dịch vụ phát triển nhanh. Hải Phòng cũng là thị trường đầy tiềm năng. Lượng hàng hoá thông qua Cảng tăng nhanh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội đạt khá cao. Đặc biệt, Hải Phòng còn là thị trường khoa học - công nghệ đầy tiềm năng, có nguồn nhân lực đông đảo, có tay nghề cao. Tiềm năng du lịch là rất lớn. Hải Phòng có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật - tín ngưỡng. Đảo Cát Bà, bán đảo Đồ Sơn là khu nghỉ mát, du lịch sinh thái và điều dưỡng nổi tiếng, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Năm 2009, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 28.500 tỷ đồng. Cơ cấu GDP: công nghiệp - xây dựng chiếm 52,51%; dịch vụ chiếm 35,72%; nông - lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 10,77%. Tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt trên hai con số. Ngày 16 tháng 9 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050:
- Là đô thị loại I trung tâm cấp quốc gia, có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước;
- Là thành phố cảng, cửa chính ra biển quan trọng của nước ta, là đầu mối giao thông quan trọng Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc;
- Là Trung tâm kinh tế - khoa học - kỹ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Hải Phòng, một thành phố trẻ được hình thành vào thời kỳ cận đại, vốn đầy tiềm năng và luôn khát vọng vươn lên. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người Hải Phòng, với bản sắc riêng của mình, cũng đều biết phải làm gì cho xứng đáng với quê hương, đất nước mình.