CHÙA DÃNG TRUNG, HANG VUA VÀ HANG
ÁNG VẢI
(Di tích nghệ thuật và thắng cảnh cấp Quốc
gia)
-----
Khái quát về di tích
Chùa Dãng Trung, có tên chữ là Linh
khiếu tự. Là một trong 5 ngôi chùa thờ Phật của làng xã Minh Tân (nay thuộc
phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng). Ngoài tên chữ Linh khiếu (tiếng hót của
chim khiếu thiêng), tên gọi dân dã quen dùng là chùa Dãng Trung - chùa Dưỡng ở
thôn Trung.
Trong suốt cuộc kháng chiến trường
kỳ 9 năm chống Pháp, chùa Dãng Trung thường là địa điểm hội họp của cán bộ lãnh
đạo, nơi luyện tập của lực lượng vũ trang địa phương. Trong cuộc kháng chiến
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 1964 - 1972, chùa Dãng Trung cùng Hang
Vua thuộc xã Minh Tân là nơi đóng căn cứ chỉ huy của Bộ tư lệnh Hải quân quân
đội nhân dân Việt Nam.
Niên đại và cấu trúc của công trình
Trở lại lịch sử ngôi chùa, bút tích
của Hòa thượng Kim Cương tử - Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương giáo hội
Phật giáo Việt Nam viết: Chùa làm từ đời Hậu Lê, vườn chùa có hai ngọn tháp tổ
sư và cùng với niên hiệu hai vị ở tháp này còn có mảnh văn bằng để lại, ghi duệ
hai vị danh tăng như sau:
1. Ma ha sa môn tự Hải Huệ Thích
Thông Thông luật sư. Lê triều Cảnh Hưng sắc tứ tăng chánh.
2. Ma ha sa môn tự tinh căn, Thích
Không Thông luật sư, Lê triều Vĩnh Hựu sắc tứ tăng phó.
Nhân dân địa phương còn cho biết.
Chùa Dãng Trung đã có tới 4 vị sư tăng được giáo hội cấp trên phong Hòa thượng.
Trong thập niên 60 (1960) Hòa thượng Thích Văn Nhâm (tự Thanh Tâm) trụ trì ngôi
chùa Dãng Trung đã được cử vào hội đồng chứng minh Phật giáo trung ương, kiêm
phụ trách trường hạ của giáo hội Phật giáo Hải Phòng. Hòa thượng Nhâm trước tu
tại một ngôi chùa ở vùng Hải Dương, chuyển về Dưỡng Động, trụ trì tại chùa
Trung từ năm 1954 đến năm 1980 viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi.
Chùa Dãng Trung tọa lạc trên lưng
chừng ngọn núi đất, xung quanh cây cối tốt xanh. Mặt chính hướng về làng xóm. Khuôn
viên của chùa vốn rộng rãi, bao gồm phật điện, nhà tổ, nhà tăng, nhà bia, nhà
khách nhưng trải qua chiến tranh, thời gian, mưa nắng hủy hoại, nhà bia, nhà tổ
của chùa đã bị đổ mái. Kiến trúc chính của chùa hiện nay gồm một nếp chùa bằng
gỗ mái lợp ngói ta hai lớp, nền bó đá tảng xanh, sân lát gạch cổ. Tòa tiền
đường gồm 3 gian 2 dĩ tường xây gạch, vì nóc kết cấu kiểu rẻ quạt, cấu tạo một
bộ vì gỗ gồm 1 thanh câu đầu bào trơn, nối hai ngọn cột cái. Từ thân mỗi cột
cái lại được liên kết 3 thanh kẻ gỗ nối liền với cột con qua xà hạ, bẩy hiên,
lá mái. 3 gian vuông góc với tòa tiền đường. Vì nóc kết cấu kiểu chồng rường
thuận kẻ liên kết giữa các vì bằng hệ thống xà thượng và các thanh kẻ nách từ
cột cái, đầu kia được gối vào trụ ốp sát tường. Cũng như 4 vì gỗ tòa bái đường
các vì gỗ của ba gian chuôi về cũng để trơn không trang trí gì. Phật đài được
bố trí trên bệ xây xi măng gồm 6 bậc từ cao xuống thấp bao gồm các lớp tượng
sau:
- Tượng tam thế ba pho (biểu hiện
tượng phật ở 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai) cả ba pho tượng đều có số đo
tương tự nhau cao 72cm khoảng cách giữa hai vai =29cm, giữa hai lòng đùi =37cm.
Tượng thể hiện nhiều nếp áo, nhưng hở ngực, lộ chữ vạn, ngồi tọa thiền trên đài
sen, 2 lòng bàn tay lồng vào nhau trong thế khoanh chân kiết tường lộ rõ bàn
chân phải.
- Bộ tượng Di đà tam tôn trong tư
thế đứng trên đài sen một tay cầm ống cam lồ, tay kia cầm cành dương liễu, giữa
hai pho tượng đứng là pho A di đà ngồi trên đài sen.
- Bộ tượng Ngọc hoàng, Nam tào, Bắc Đẩu
tay cầm hốt ngọc, đầu đội mũ phốc, chân đi hia mang dáng dấp một vị quan đương
thời.
- Tượng tổ Tây và vị quan âm đầu đội
mũ tỳ lư, hai tay đang trong thế bắt quyết.
- Tòa cửu long: Diễn tả thời sơ sinh
của Phật tích ca cao 56cm.
- Chiếc nhang án gỗ cao 33cm, rộng
71 cm.
Ngoài cùng về hai phía là pho hộ
thiện - hộ ác ngang 85cm. Có đặt một số ống hương, đèn nến, 1 bát hương đại cao
20cm, đườngkính 24cm men hoa lam, trang trí lưỡng long chầu nguyệt.
Hai gian dĩ tức là hai phía tả, hữu
của ba gian tiền đường được bố trí ban thờ Phật phía tả khám tượng Đức ông,
phía hữu khám thờ Mẫu, nối thêm gian thờ sư tổ, do nhà hậu và nhà tổ cũ đã bị
đổ nát.
Hiện vật và di vật còn lại
1. Cây trúc đài hình trụ chữ nhật
cao 147cm chữ đề: Linh khiếu tự, niên hiệu Chính Hòa 21(1700).
2. Chuông đồng: 2 quả, qua thứ nhất
cao 113cm tích của đỉnh cù lao là hai con rồng đầu lưng vào nhau tạo thành quai
treo, chuông mang niên hiệu Chính Hòa 25-(1704). Quả chuông thứ 2 nhỏ hơn, niên
hiệu Bảo Đại nguyên niên 1926.
3. Tháp chứa xá lỵ các vị sư tổ: 4
chiếc. Đáng chú ý có 2 chiếc ghép bằng đá xanh, chứa bài vị đá khắc duệ hiệu
các vị Hòa thượng, một tháp xây gạch cổ Bát Tràng, mang niên hiệu Tự Đức 21
(1867). 1 tháp gạch mới xây lại năm 1979. Tại khu nhà bia cũ của chùa, mái đã hỏng
nát, nhưng còn sót lại tường và nền bó đá tảng nguyên khối có tới 6 bia đá, nội
dụng công đức, hậu phật tu tạo chùa mang các niên hiệu sau: Bia Cảnh Hưng 5 (1754);
Bia Minh Mệnh 19 (1838); Bia Tự Đức 14 (1860); Bia Khải Định 7 (1922)2 chiếc; Bia
Bảo đại 5 (1930).
Tất cả các bia nói trên còn nguyên
vẹn, chữ khắc rõ, rất tiếc còn để ngoài trời, đo nhà bia cũ bị đổ mái, địa
phương cần có kế hoạch tôn tạo, bảo quản số bia này.
Chùa Dãng Trung (Linh khiếu tự) là
ngôi chùa cổ, có danh tiếng ở khu vực Hải Phòng - Quảng Yên. Chùa gần liền với
tên tuổi sự nghiệp hai vị cao tăng thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17. Khuôn viên
chùa ngày nay tuy bị thu hẹp về kiến trúc nhưng còn nguyên ở vị trí ban đầu.
Tượng phật của chùa còn lại không đầy đủ về thể loại số lượng, nhưng là những
pho tượng đẹp tỷ lệ cân đối, mang dấu ấn nghệ thuật tạo hình của thế kỷ 18. Bản
thân toàn bộ khuôn viên ngôi chùa đã liên tục gắn liền với qua trình phát triển
cách mạng và kháng chiến của địa phương cùng cả nước. Địa thế thiên nhiên, cảnh
quan đẹp, có tầm quan sát từ chùa ra nhiều mục tiêu xung quanh rất thuận lợi,
xứng đáng là một trọng điểm tham quan lý tưởng của cụm di tích xã Minh Tân.
Khu vực hang Vua, hang Áng Vải - di tích cách mạng ở địa
phương
Từ núi chùa, nơi có chùa Linh khiếu
tự tọa lạc, bằng mắt thường du khách có thể nhận biết dãy núi đá vôi chạy lô xô
trước mặt, nơi mà sự cộng hưởng tuyệt diệu của nắng mưa đã tạo ra trên dãy núi
những tác phẩm bất hủ được gọi theo trí tưởng tượng của mỗi người dân địa
phương cảm nhận: Động Trung trang, An bạch vân, núi Ngọc, núi con rắn vàng
(Hoàng xà)... Hang Vua là một trong những hang động thiên tạo tuyệt vời đã mãi
mãi đi vào sử sách ở địa phương cũng như lịch sử Đảng bộ Hải Phòng. Hang Vua
nằm ở núi Vệ, gần một cửa chính và 2 ngách thông nhau ở lòng hang.
Nhân dân địa phương cho biết đến nay
chưa ai có thể thám hiểm hết chiều sâu của lòng hang với nhiều ngóc ngách bất
ngờ. Phía ngoài cửa hang là một lũng đất đỏ rộng chừng 200m2. Vòm hang tròn,
sâu hút lởm chởm nhũ đá, hút gió như hang Đầu Gỗ Vịnh Hạ Long, dưới đáy hang là
một lũng nước trong vắt bốn mùa không cạn. Cạnh kẽm đá còn thấy một phiên đá
bằng phẳng hình chữ nhật và bộ ngai thờ phía trên đặt bát hương. Theo truyền
thuyết địa phương mà có tác giả đã gọi đây là một ly cung, nơi Hùng Duệ vương
đã từng đặt chân tại đây, nên mới có tên hang Vua. Tháng 10.1940 Chi bộ Đảng
cộng sản đầu tiên ở huyện Thủy nguyên được thành lập có 5 đảng viên do đồng chí
Nguyễn Phú Thập (tức Cảnh) làm bí thư. Từ đó, trên địa bàn hang Vua - Minh Tân
thành căn cứ giao thông liên lạc quan trọng của Đảng từ Hải phòng ra vùng mỏ
Quảng Ninh. Từ cuối năm 1949, một bộ phận của Thành ủy Hải Phòng đo đồng chí bí
thư Thành ủy Lê Quang Tuấn và nhiều cơ quan đoàn thể như Công đoàn, Thanh niên,
Kinh tài, Tình báo quân sự, Công an thành phố... được chuyển từ hậu cứ Thái Bình
về đóng tại số hang động của Minh Tân để chỉ đạo cuộc kháng chiến trường kỳ.
Các cơ quan kể trên phân tán tại các hang núi như: Hang Vua, hang Ma, hang
Thần, Áng vải, được lòng dân Minh Tân che chở, bảo vệ trong mọi tình huống.
Cũng tại hang Vua trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1964-1973) Bộ
tư lệnh hải quân nhân dân đã đóng chỉ huy, chỉ đạo cuộc chiến đấu bảo vệ miền
Bắc XHCN và chi viện miền Nam qua tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển. Tại đây
với nhiều gương mặt tướng lĩnh nổi tiếng một thời như: Tướng Tạ Xuân Thu,
Nguyễn Bá Phát... Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, quân đội ta đã về
đây trực tiếp chỉ đạo công việc như cố tổng
Bí thư Lê Duẩn, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp...
Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Khung cảnh ngôi chùa Dãng Trung giữa
làng xóm xen lẫn thung đồi đất đỏ, lại được án ngữ bởi sông núi phía trước đã
tạo ra một giá trị to lớn về kinh tế - quân sự và tài nguyên môi trường sinh
thái ở khu vực chùa và các hang động đã nêu. Nhiều hang động còn để lại dấu vết
những lớp sò điệp, ghi lại dấu ấn của lớp cư dân thời tiền sử mà ngày nay con
người đang tiếp tục phát hiện và khai thác giá trị nhân văn của chúng và cần
được bảo vệ, tôn tạo thường xuyên, tránh việc khai thác đá, chặt cây xanh bừa bãi,
ảnh hưởng đến cảnh quan và môi trường sinh thái, biến dạng di tích hang động.
Đến thăm di tích chùa Dãng Trung và
các hang động kỳ thú, đi qua làng xóm cổ truyền một thời nổi tiếng bởi nghề làng
gồm sành sứ, chế tác đá, du khách sẽ hòa nhập vào lịch sử qúa khứ và hiện tại
của Dưỡng Động - Minh Tân.
Ngày
13/02/1996, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch) đã ban hành Quyết định số
310/QĐ-BT, chính thức xếp hạng chùa
Dãng Trung, Hang Vua và hang Áng Vải xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố
Hải Phòng (nay thuộc phường Bạch Đằng, thành
phố Hải Phòng) là Di tích Nghệ thuật và thắng cảnh cấp Quốc gia.