ĐÌNH,
CHÙA TÂY
Di
tích nghệ thuật cấp Quốc gia
Khái
quát về di tích
Minh Tân là địa phương có nhiều di tích cổ, đình,
chùa, hang động kỳ thú, địa hình kiến tạo gồm nhiều dải đồi đất đỏ, núi đá vôi
silic bao quanh dải đồng bằng nhỏ hẹp, kéo dài. Trước năm 1945, Minh Tân được
gọi là xã Dưỡng Động. Tổng Dưỡng Động ngày ấy gồm 3 xã: Dưỡng Động, Tràng Kênh,
Gia Đước. Sau Cách mạng tháng 8, tổng Dưỡng Động được đổi tên thành xã Minh Tân.
Đình Tây thuộc xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên (cũ)
nay thuộc phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng. Đình có quy mô đồ sộ, trang
trí chạm khắc khá tinh xảo, tiêu biểu cho các ngôi đình được xây cất trên mảnh
đất này. Do nằm ở vị trí phía Tây làng xã, hiện đình mang tên gọi đình Tây, hay
còn gọi là đình Cả hay đình Chung, để phân biệt với 5 ngôi đình khác của các
giáp. Từ xa xưa, đình Tây là niềm tự hào của nhiều thế hệ người Minh Tân sống
tại địa phương, hay sinh sống trên mọi miền đất nước. Hầu hết mọi người ở Dưỡng
Động - Minh Tân đều gọi ngôi đình ở sườn núi phía Tây là ngôi đình chung, bởi
lẽ ngày hội làng 15-1(âm lịch) các giáp đều rước nghi vệ thành hoàng từ giáp
mình tề tựu tại đình Tây mở hội. Sau 3-5 ngày rã hội, các giáp lại rước về đình
mình an vị.
Chưa đầy 100m về phía bên trái ngôi đình Tây có một
ngôi chùa thờ Phật ẩn mình khiêm tốn. So sánh với diện tích đồ sộ trước kia hoặc
tòa hậu cung hiện nay của ngôi đình thì quy mô của ngôi chùa nhỏ bé hơn nhiều.
Đặc điểm lớn nhất là khuôn viên kiến trúc còn nguyên vẹn, chùa Tây có tên chữ
là Hàm long tự cấu trúc chữ đinh (J) 3 gian tiền và 2 gian ống muống đặt ban thờ
Phật.
Nhân vật được tôn thờ tại đình
Căn cứ vào nguồn tài liệu được lưu hành trong thời
gian qua như: Địa chí Hải Phòng, đất và người Thủy Nguyên, Tạp chí nghiên cứu
Hải Phòng số 4.1986... Và bản dịch ra quốc ngữ thần phả hiện lưu giữ tại tư
liệu Bảo tàng Hải phòng, đã cho chúng ta thấy rõ trang lịch sử địa phương có
cội nguồn từ rất sớm. Ngay từ thời vua Hùng thứ 18 (Duệ Vương) khoảng thế kỷ 3
trước công nguyên đã có trang Dưỡng Động. Thời gian đó có một viên quan là bộ
tướng tâm phúc của Hùng Vương đến vùng Dưỡng Động, thấy ban trang có gia đình
họ Hoàng tên Nhân sinh được người con gái tên gọi Quế Nương, đoan trang thủy
mị, bèn hỏi làm vợ. Sau đó Quế Nương sinh ra được 4 người con gồm 3 trai, 1 gái
tài giỏi hơn người. Vào năm 258-257 trước công nguyên, Hùng Duệ Vương đã kéo
quân về đóng dã ngoại ở Dưỡng Động nay địa phương còn hang núi đá mang tên
hang Vua. 4 người con của Quế Nương khôn lớn, đã giúp dập triều đình được vua
Hùng phong tước, lại chia trang Dưỡng Động thuở ấy ra làm 4 khu cấp cho anh em
họ Hoàng cai quản. Trong một lần nhà nước có biến, dẹp giặc xong cả 4 anh em
cùng 4 vị tướng khác của vua Hùng đều mất. Cả 3 vị đều được vua ban cho sắc,
phong thần, chuẩn cho nhân dân trang Dương Động lập miếu, thờ phụng ngày đêm.
Những ghi chép về ngôn ngữ để lại qua cách gọi tên địa danh làng xã, núi sông
như làng Pheo, núi Vệ, xóm Trại, núi Chùa... Đồng thời với những cứ liệu khoa học
và di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (cùng tổng Dưỡng Động có niên đại từ 3000±3200
năm). Nếu gạt bỏ yếu tố huyền thoại của ban thần tích, chúng ta có thể hình
dung là từ thời đại Hùng Vương dựng nước (là cả một quá trình dài từ giai đoạn
tan rã của chế độ công xã nguyên thủy đến thành lập nhà nước đầu tiên) con người
từ miền trung du đã bắt đầu chiếm lĩnh vùng ven biển, lập nên những làng xã cổ
truyền như trường hợp làng Dãng, nay là xã Minh Tân.
Niên đại và cấu
trúc của công trình
Đình Tây được thừa nhận là một công trình kiến trúc
cổ, đồ sộ vào bậc nhất nhì của cả vùng duyên hải Hải Phòng - Quảng Ninh ngày
nay. Sử liệu địa phương ghi chép về ngôi đình cho biết: Đình chung gồm 7 gian
tiền đường, 3 gian hậu cung, 4 cây cột cái (tứ trụ) cao gần 6m, đường kính cột
hai người ôm không xuể. Di tích ngôi đình tọa lạc trên một gò núi đất đỏ ở phía
tây làng, có tầm bao quát cả một dải đất đai. Mặt chính của di tích quay hướng
Nam, phía trước ba tầng bậc đá xanh là một giếng nước trong xanh, kề ngay vùng
xoáy của một nhánh sông cổ. Toàn bộ diện tích của ngôi đình còn nguyên ở vị trí
ban đầu, những cột cái, câu đầu, xà ngang, xà dọc bằng gỗ lim nguyên cây do bị
hư hỏng đã được rỡ bỏ. Số lượng đầu kê chân cột bằng đá xanh gồm hai loại vuông
và tròn, cổ bồng thắt đáy còn nguyên vẹn trên bậc nền lát đá xanh. Một số lớn
các tiêu bản trang trí trên kiến trúc 7 gian tiền đường mang các đề tài quen
thuộc như tứ linh, lưỡng ngư vọng nguyệt, phượng đơn xòe cánh múa, long vân
khánh hội, cá chép hóa rồng, cua, tôm, cá, cúc, sen đã được tháo rỡ xếp gọn bảo
quản tại vị trí công cộng của xã, kiến trúc còn lại nguyên vẹn của ngôi đình gồm
phần hậu cung: 3 gian, 4 vì gỗ.
Mặc dù kết cấu kiến trúc gỗ của 7 gian tiền đường đã
được rỡ bỏ để đảm bảo an toàn, nhưng toàn bộ mặt nền, bậc thềm đá đấu kê chân cột
còn nguyên vị trí, cảnh quan cũ. Hồi tưởng và hậu cung được xây lắp bằng những
viên gạch cổ Bát Tràng to bản, mái di tích lợp ngói ta hai lớp.
Mái chùa lợp ngói hai lớp, kết cấu vì nóc kiểu giá
chiêng bằng gỗ. Mặt chính của chùa dài 8,380m, quay về hướng Tây Nam, thoải về
sườn núi phía Tây, còn dấu vết một vực xoáy của một dòng sông cổ, nay đã cạn dần,
chỉ để lại dãy ao, hồ trũng hướng ra phía bờ sông Giá. Trước đây, dân làng dùng
đường sông vận chuyển gỗ nguyên cây về dựng đình, chùa của làng. Cùng với ngôi đình
Chung (đình Tây) ngôi chùa Tây từ xa xưa cũng như hiện nay đã góp phần thoả mãn
nhu cầu về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân địa phương, đa số là tầng lớp
các vãi già "Trẻ vui nhà, già vui chùa", hay "Đất vua, chùa làng
phong cảnh bụt". Trong kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp (1946-1954) chùa
Tây là một cơ sở kháng chiến bí mật của địa phương. Những năm hòa bình đầu
tiên, chùa là văn phòng làm việc của Ủy ban hành chính xã. Tại khu đất ngoại tự
của chùa, còn dấu tích thờ bà chúa vợ ông Nghè họ Nguyễn ra làm quan với nhà Mạc,
đỗ Hoàng Giáp giữ chức trưởng lục bộ thượng thư triều Mạc. Am thờ công chúa Mạc
Thị, hiệu Phương Dung, thê của Vũ Cành người Dưỡng Động, đỗ tiến sỹ khoa Nhâm
Tuất 1562 triều vua Mạc Hậu Hợp.
Hiện vật, di vật
còn lại
Hiện tại đình còn lưu giữ 7 bộ hiện vật gồm tượng,
ngai chứa bài vị, biểu tượng cho 7 vị thành hoàng trang Dưỡng Động, một vị thờ
tại khu đình Đoài đã bị người Pháp mang đi mất tích, khi địa phương còn bị tạm
chiếm. Theo các cụ già địa phương, trước đây di tích có rất nhiều sắc phong của
các triều vua ban tặng. Do quá trình tách ra nhập vào từ Quảng Yên và Thủy Nguyên
sắc phong bị thất lạc hết. Duy nhất chỉ còn lại 1 bản sắc phong đời Khải Định
thứ 9 (1925) cho 8 vị thành hoàng Dưỡng Động. Bát cắm hương chất liệu gồm sành:
Đây là một hiện vật đơn chiếc, liên quan đến việc thờ cúng ở nơi công cộng của
làng xã, trang trí rất cầu kỳ, niên đại nghệ thuật Nguyễn đầu Thế kỷ XIX. Nghệ
thuật trang trí hoa văn độc đáo, dập nổi hoặc gắn từ ngoài vào, chứ không khắc
vẽ như các mặt hàng gốm ở giai đoạn trước. Chất liệu gồm sành, độ nung già dặn.
Đây là một trong số ít đồ thờ tự độc đáo của di tích hiện nay. Hai cỗ kiệu bát
cống cỡ trung. 6 bộ bát biểu, chấp kích được đặt trong giá gỗ. Bốn chiếc bia
đá. 1 chiếc ngai khám sơn: Cao 1,04, rộng 69, dài 70cm. Bên trong khung kính đặt
vị tượng một phụ nữ, mặt trái xoan trang phục theo lối quyền quý. Vốn ngai khám
và vị tượng trước đây được dân làng thờ ở khu vực từ Bà, nay được rước về thờ tại
đình. Các hiện vật khác như: Liễn cổ có nắp, hình quả thị, đường kính 10cm, cao 15cm, chuông đồng cỡ nhỏ, đường
kính đáy 50cm, cùng một số đồ gỗ, đồ vải như mâm bồng, ống hương, đèn nến, lọ
hoa gốm hiện đại...
Hiện tại chùa Tây (Hàm long tự) còn bảo lưu được
nhóm cổ vật có giá trị: Ban thờ Phật, tuy không thật đầy đủ, nhưng còn nguyên 3
pho tượng tam thế, Quan âm Tống tử, Adi đà, Tượng sư tổ, 1ồng tượng cửu long.
Trong khuôn viên của chùa còn bảo lưu được cây trúc dài khắc chữ: Hàm long tự,
cùng niên hiệu Chính Hòa vạn thế: 1680-1705 cho biết niên đại khởi dựng của
ngôi chùa. Quả chuông đồng cao 112cm cả đỉnh cù lao, niên hiệu Cảnh Hưng
13(1732) khắc rõ chữ Hán tên họ, địa chỉ các thiện nam, tín nữ Dưỡng Động và thập
phương làm công đức đúc nên quả chuông chùa Hàm long. Bia ký còn lưu giữ được 4
bia đá: Hậu Phật bia ký Minh Mạng 20 (1839); Hậu Phật bia ký Minh Mạng 13(1832);
Bia công đức Thiệu Trị 3 (1843); Bia hậu: Tự Đức 5 (1862).
Sinh hoạt văn
hóa, lễ hội truyền thống
Theo lệ cổ truyền, lễ hội ở Dưỡng Động trước đây chủ
yếu diễn ra vào mùa xuân, bắt đầu từ 15.1 âm lịch, trong 3-4 ngày liền. Tất cả
các giáp trong làng đều rước nghi vệ thành hoàng thờ tại khu vực giáp cư trú, tập
trung về từ vũ tế hậu hiền của cả tổng nằm tại bên hữu đình Tây chính thức khai
hội. Dân làng tổ chức thi gói bánh dày, đấu vật, chọi gà, đánh cờ người, thi
hát đúm, hát chèo sân đình, trích đoạn tuồng cổ.
Hàng năm, cứ vào ngày 16/01 được làng xã quy định là
ngày rước lão. Tất cả các lão ông tuổi từ 60 trở lên, đến tập trung tại nhà ông
đại thọ (tuổi cao nhất trong làng). Sau đó toàn thể các cụ được con cháu và dân
làng rước lên đình Chung bằng võng, lọ lọng, cờ hoa trong tiếng nhạc bát âm
chào mừng. Sau khi làm lễ tế thành hoàng, từng cặp các cụ lão ông trang phục gọn
gàng, quần chùng áo chẽn, thắt lưng bao đỏ, biểu diễn thế vật giằng cầy biểu thị
cho ý chí và sức mạnh dẻo dai của tuổi già địa phương. Sau đấy giải vật truyền
thống hàng năm trong lễ hội đình Tây - Minh Tân - Dưỡng Động cũng được diễn ra.
Ngoại trừ những yếu tố khách quan, lễ hội truyền thống của địa phương diễn ra
thật vui tươi, sống động, mang tính cộng đồng, giáo dục mỗi thành viên lòng
dũng cảm, khiêm nhường, kính trọng lớp người cao tuổi trong xóm, ngoài làng.
Minh Tân là một làng quê có bề dày lịch sử, làng xã
phát triển sớm. Di tích đình - chùa Tây nổi tiếng một thời, mặc dù tòa đại đình
không còn nguyên vẹn nhưng hiện tại nội thất còn bảo lưu nhiều cổ vật có giá trị
như: Ngai tượng, chuông đồng, bia đá Lê-Nguyễn. Đình chùa Tây gắn liền với sự
hình thành phát triển của lịch sử địa phương.
Ngày
13/02/1996, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch) đã ban hành Quyết định số 310/QĐ-BT,
chính thức xếp hạng đình, chùa Tây là
Di tích Nghệ thuật cấp Quốc gia. Đây là sự ghi nhận xứng đáng cho vai
trò lịch sử - văn hóa - nghệ thuật của đình, chùa trong tiến trình hình thành,
bảo vệ và phát triển vùng đất cửa biển Hải Phòng.