ĐÌNH KHINH DAO
(Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia)
-----
Khái quát về di tích
Đình Khinh Dao là công trình kiến trúc cổ phản ánh truyền thống văn hoá và tín ngưỡng cổ truyền của cộng đồng dân cư làng xã Khinh Giao trong lịch sử. Tên gọi của di tích cũng chính là tên địa danh sản sinh ra công trình. Vì vậy tên gọi xưa nay của di tích này luôn là Đình Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương (cũ), thành phố Hải Phòng (nay thuộc phường Hồng An, thành phố Hải Phòng).
Nằm trên trục quốc lộ 5, đường đến di tích đình Khinh Dao, phường Hồng An khá thuận lợi. Di tích có cảnh quan thoáng đãng, tạo cảm giác thoải mái cho việc tham quan, dừng chân lâu hơn tại di tích.
Nhân vật được tôn thờ tại Đình Kinh Dao
Theo tư liệu và truyền thống địa phương, đình Khinh Dao tương truyền được khởi dựng từ thế kỷ XVII, ban đầu có quy mô nhỏ. Đến năm 1752, nhân việc Tiến sĩ Phạm Đình Trọng xin nhà chè ở kinh đô về quê, dân làng đã tổ chức làm đình mới với quy mô lớn hơn. Đến thời Nguyễn, ngôi đình đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Vào năm 1930, ông Lưu Văn iểm (thường gọi là Hàn Điểm) đã tổ chức trùng tu lớn đình Khinh Dao. Kiếntrúc hiện tại của ngôi đình, nhất là tòa đại đình, chính là kết quả từ đợt tu bổ này.
Các nhân vật được tôn thờ tại Khinh Dao không hoàn toàn được thờ chính tại đình làng mà thờ tại miếu, cách đình làng khoảng 200m. Theo lệ của làng xã xưa kia, thần hoàng thờ ở miếu. Khi làng vào hội mới rước từ miếu về đình làng. Xong hội lại rước về yên vị tại chỗ cũ. Lệ này cũng được thực hiện tại Khinh Dao. Nhưng ở đây có vấn đề lịch sử rất đáng chú ý liên quan đến các nhân vật được thờ. Đó là quá trình hoàn thiện việc thờ cúng thần hoàng được hình thành qua hai giai đoạn trước khi thống nhất vào thời Nguyễn.
Giai đoan thứ nhất: Các vị thần được thờ ở làng Khinh Dao có từ trước thế kỷ XVIII bao gồm 6 vị thiên thần có nguồn gốc liên quan đến thời đại Hùng Vương: Quảng Tế cư sĩ đại vương, Lộ Đại Đô tôn thần, Cối Linh Lâm đại thần, Đại Phạm tôn thần, Đống Áp đại thần, Bà Sa thái tử đại thần. Lai lịch các vị thiên thấn nêu trên đến nay không thấy tài liệu nào nhắc đến một cách đấy đủ. Dân làng Khinh Dao đã từng bỏ công sưu tầm tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Sử học... song chưa có kết quả. Tên các vị thần nêu trên là duệ hiệu được ghi trong các sắc phong còn được bảo lưu tại di tích và được thờ bằng bài vị, không có tượng.
Giai đoạn thứ hai: Sau khi Phạm Đình Trọng, người làng Khinh Dao, một trọng thần của vua Lê, chúa Trịnh hồi thế kỷ XVIII qua đời, do có nhiều công lao nên được triều đình phong làm thượng đẳng phúc thần và lệnh cho dân làng tôn thờ ở đình, miếu và xuân thu nhị kỳ cúng tế.
Niên đại và cấu trúc của công trình
Thông qua kiến trúc gỗ hiện còn, đình Khinh Dao phản ánh 2 niên đại xây dựng khác nhau một cách rõ nét.
Thứ nhất: toà hậu cung có niên đại khởi dựng sớm hơn so với toà tiền đường. Với diện tích sử dụng khá rộng rãi so với hậu cung của nhiều ngôi đình khác, gồm 3 gian, 4 vì gỗ, đầy đủ cột cái, cột quân, vì nóc mái, vì góc, vì nách, bảy, kẻ thì chắc chắn vào cuối thời Nguyễn, khi đình Khinh Dao được tu sửa thì toà tiền đường của ngôi đình cũ được chuyển sang làm hậu cung. Đây là dấu tích còn lại của toà nhà mà Thượng thư Phạm Đình Trọng đưa từ Kinh thành về để dựng đình làng. Mặt khác, kiến trúc gỗ được làm nhỏ hơn nhưng trau chuốt hơn so với sự to lớn và cứng cáp của toà tiền đường. Trên các thanh chong rường, xà, quá giang đều được bào soi, tạo gờ chỉ nổi. Đặc biệt trên các cột, xà, vì vẫn còn giữ được lớp sơn thếp màu tía. Đó là loại sơn ta, dày, phủ 2 lớp hiện đang bong tróc ở nhiều chỗ. Trang trí điêu khắc nghệ thuật ở toà nhà này cũng gần như vắng mặt. Kết hợp với các nguồn tư liệu và qua phong cách kiến trúc, toà hậu cung đình Khinh Dao có niên đại khởi dựng vào thế kỷ XVIII thời Hậu Lê.
Thứ hai: có thể khẳng định ngay là toà tiền đường niên đại khởi dựng năm 1930. Vào năm này, ông Lưu Văn Điểm, người làng Khinh Dao nổi tiếng giàu có đã đứng chủ hưng công lại đình làng. Chắc hẳn, nhờ khả năng tài chính dồi dào nên toà tiền đường đã được làm hoàn toàn mới với qui mô kiến trúc to lớn và đồ sộ. Ở đây, những người thợ dựng đình có lẽ chú trọng nhiều hơn đến sự vững chắc và độ bền của công trình nên đã lược bớt các mảng trang trí điêu khắc nghệ thuật cầu kỳ. Mặc dù vậy những phong cách kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn vẫn được thể hiện rõ nét.
Như vậy, đình Khinh Dao có 2 niên đại xây dựng khác nhau. Sự khác nhau ấy hiện vẫn còn được bảo lưu ở 2 toà hậu cung và tiền đường của ngôi đình. Đây cũng là một chi tiết quan trọng góp phần tạo nên giá trị nhiều mặt của di tích này.
Đình Khinh Dao được xây theo hướng bắc với mô típ kiểu chữ đinh truyền thống gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Mái lợp ngói mũi hài. Đầu mái đắp hình đao cong kiểu rồng chầu phượng mớm.
Mặt trước phía ngoài tiền đường gồm tường ngăn, cửa sổ và cửa ra vào do mới được sửa lại vào những năm 1970 - 1980 nên có hình thức và kích thước như kiểu nhà dân dụng. Nhưng hàng cột hiên đứng trên trụ đá tròn đỡ tàu mái và bảy vẫn còn nguyên vẹn. Bước vào bên trong toà tiền đường, đình Khinh Dao thực sự là một công trình kiến trúc rất đồ sộ bởi qui mô của công trình với lớp lớp các cột cái, cột quân, vì kèo, xà thượng, xà hạ... cao lớn trải khắp 5 gian toà bái đường của đình. Toàn bộ hệ thống cột cái, cột quân đều đứng trên các chân tảng đá vôi cao tới 62cm, chu vi rộng 2,2m đục đẽo công phu với hình dáng chân tiện thắt cổ bồng. Phần trên đục dải hoa văn như ý ôm lấy chân tảng. Nhờ có các chân tảng cao nên các chân cột gỗ không bị ngấm nước, tạo độ bền vững cho công trình. Bộ vì nóc mái kết cấu theo kiều chồng rường, để trơn không trang trí. Trên lưng câu đầu, nối 2 đầu cột cái là dép gỗ đỡ 2 trụ ngắn. Trên là 2 thanh chồng rường. Thanh chồng rường thứ nhất đội thượng lương và đôi hoành mái thứ nhất. Hai đầu thanh chồng rường thứ hai đỡ đôi hoành mái thứ hai. Dưới bụng câu đầu là hai đầu dư ăn mộng vào đầu cột cái đỡ câu đầu.
Vì dưới được làm đơn giản không có trang trí nghệ thuật cầu kỳ. Nhưng chính sự để trơn đã cho phép người thợ có điều kiện trau chuốt và các lỗ mộng liên kết các kết cấu được làm một cách khá chắc chắn. Kết cấu vì dưới của đình Khinh Dao gồm một thanh xà nách có kích thước lớn, một đầu ăn mộng vào cột cái, đầu kia nối vào cột quân. Trên lưng dựng 2 cột trốn, liên kết với cột cái, cột trốn là hai thanh xà ngắn đỡ ba đôi hoành mái tạo thành vì nách. Dưới thanh xà nách chỗ nối với cột cái trang trí con sơn hình mây. Nối với cột quân là đầu nghé kẻ. Phía ngoài đuôi kẻ là bảy hiên nâng đỡ tầu mái và đuôi kẻ.
Vì góc tiền đường là một kết cấu kiến trúc gồm cột cái và 3 cột quân liên kết với nhau bằng kẻ ngang, trụ trốn, xà góc, xà thượng tạo thành mái đao cong ở phía ngoài. Phần kết cấu kiến trúc vì góc mái đình Khinh Dao còn rất chắc chắn có độ chịu lực cao.
Toà hậu cung khá rộng rãi, có qui mô rộng tới 3 gian, một dĩ do 4 vì gỗ tạo thành. Toàn bộ các cột cái, cột quân cũng được đứng trên các chân tảng đá vôi kiểu cổ bồng. So với toà tiền đường thì chiều rộng của gian, tiết diện gỗ và các chân tảng có kích thước nhỏ hơn nhưng trau chuốt và duyên dáng.
Bộ vì nóc mái toà hậu cung làm theo kiểu chồng rường giá chiêng biến thể. Nối 2 đầu cột cái là một quá giang dài bào soi hình vỏ măng. Nối hai đầu cột trốn là một thanh rường đỡ đôi hoành mái thứ 3. Trên lưng câu đầu lại dựng tiếp 2 cột trốn nữa và 1 thanh rường nối 2 đầu đỡ đôi hoành mái thứ nhất. Bên trên là 1 dép gỗ hình thuyền đội thượng lương tạo thành khung giá chiêng. Tại cột trốn đứng trên lưng quá giang có 1 kẻ nghé ăn mộng vào đỉnh cột. Thường thì đây là vị trí của đầu dư hình rồng. Dưới kẻ nghé là 1 thanh rường cụt, một đầu ăn mộng vào lưng cột trốn, đầu kia đứng trên đỉnh cột trốn thứ 2 đỡ các hoành mái.
Nét đặc biệt của toà hậu cung còn thể hiện ở các vì góc mái. Do kết cấu của các vì góc mái làm theo kiểu xối đao tầu góc nên gian cuối cùng của toà hậu cung là l gian dĩ. Tường hồi mái phía ngoài toà hậu cung cũng thể hiện mái đao cong, đắp mô típ rồng chầu, phượng mớm. Nhìn bên ngoài qua tường hồi mái trông giống như kiểu kiến trúc chữ nhị.
Hiện vật, di vật còn lại
Trong lịch sử tồn tại, ngôi đình cũng đã trải qua những thời điểm khó khăn như thiên tai, chiến tranh và một thời rơi vào sự quên lãng của con người. Chính vì vậy, nhiều cổ vật là bia đá, đồ thờ tự đến nay không còn được lưu giữ nguyên vẹn. Trong đình hiện còn một số đồ thờ tự thông thường bài trí tại gian trung tâm toà tiền đường và hậu cung như nhang án, bát biểu, đại tự, câu đối, ngai thờ, kiệu bát cống. Một vài di vật như ngai thờ, đại tự có phong cách nghệ thuật thời Nguyễn như bức đại tự "Bảo Ngã Lê Dân" làm năm Bảo Đại 1937. Hai bức treo ở gian bên là "Tham Tán Hoá Dục" ;Thần Nhi Hoá Chi" mới được làm cách đây ít năm.
Tuy nhiên, ở đình Khinh Dao hiện còn bảo lưu được một loại hình di vật khá độc đáo. Đó là loại chữ Hán khi viết các nét được sắp xếp có hình dáng trông giống như chiếc đỉnh hương. Những chữ này được trình bày dưới dạng câu đối đáp ở hai mặt trong ngoài của hai cổng ra vào đình Khinh Dao. Các cụ đồ nho gọi đây là loại chữ "đỉnh". Tương truyền, những chữ này do Thái tử Thiếu bảo Mai Trung Cát, người làng Do Nha, xã Tân Tiến ở bên cạnh đề tặng. Hiện nay rất ít người có thể đọc được loại chữ này.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều bia ký của đình Khinh Dao đã bị tiêu huỷ, nay không còn dấu tích.
Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Cũng như các ngôi đình làng khác, đình Khinh Dao là nơi tụ họp, sinh hoạt văn hoá, tổ chức lễ hội cổ truyền hàng năm của cộng đồng dân cư trong làng xã, cùng nhau gìn giữ những phong tục tập quán tốt đẹp. Trước cách mạng tháng Tám 1945, lễ hội đình Khinh Dao được tổ chức với qui mô lớn, một năm tổ chức hai kỳ vào tháng 3 và tháng l1 âm lịch. Trong đó, lễ hội tháng 3 là lễ hội chính được thực hiện đầy đủ các nghi thức cần thiết. Ngày làng vào hội, tiếng trống cầm canh luôn vang động như thúc giục nhắc nhở mọi người về hội làng. Một trong những nghi thức trọng tâm của lễ hội đình Khinh Dao là lễ rước bài vị thành hoàng từ các miếu về tập trung tại đình làng. Sau đó tổ chức tế thần hoàng. Sân đình trong buổi tế rực rỡ cờ quạt, tàn lọng. Tiếng trống âm vang trong cảnh người chủ tế trang nghiêm, đầu đội mũ cánh chuồn, mặc áo thụng lam, chân đi hia làm theo lĩnh xuớng. Sau 3 ngày hội, bài vị các thành hoàng lại được rước về chỗ cũ và tổ chức tế tạ. Bên cạnh phấn tế lễ, trong lễ hội đình Khinh Dao cũng có rước lợn ông bồ. Theo qui định của làng, người nào nhận ruộng lộc điền thì năm đó phải nuôi lợn ông bồ, góp rượu, hoa quả cho lễ hội. Hiện nay, tại bậc thềm gian trung tâm của đình Khinh Dao vẫn còn dấu tích của thước "réc", loại thước dùng để đo kích thước, trọng lượng của lợn ông bồ khắc trên tấm đá thềm hiên ngoài. Dân làng Khinh Dao cho biết, vì ruộng lộc điền của làng rất nhiều, nên lễ hội của làng thường được tổ chức to.
Phần hội: Vào những năm phong đăng hoả cốc, phần hội còn có nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như hát xướng, vật, cờ, chọi gà. Như một tập quán mang đầy đủ những nét đẹp của văn hoá cổ truyền dân tộc, lễ hội đình Khinh Dao đã gắn kết cộng đồng, cùng nhau ước nguyện về một cuộc sống bình yên, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, no đủ cho mọi người trong làng xã. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước khu vực đồng bằng Bắc Bộ thể hiện qua các lễ hội cổ truyền.
Xét giá trị lịch sử văn hoá nghệ thuật, cảnh quan môi trường mà di tích đang hàm chứa, ngày 16/11/2005, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định số 66/2005/QĐ-BVHTT xác định việc xếp hạng đình Khinh Dao là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia)./.