ĐÌNH NHU THƯỢNG
(Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia)
Khái quát về di tích
Đình Nhu Thượng nằm trên địa bàn xã Quốc Tuấn, huyện An
Dương, nay là phường An Hải, thành phố Hải Phòng. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử,
Đình Nhu Thượng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị kiến trúc, điêu khắc nghệ
thuật đặc sắc mà còn là biểu tượng sinh động cho truyền thống yêu nước, tinh thần
chống ngoại xâm quật cường và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân địa
phương.
Đình Nhu Thượng được khởi dựng trên một khu đất bằng phẳng, cao
ráo, nằm kế cận khu dân cư sầm uất. Mặt chính của đình nhìn về hướng Tây chếch
Nam, trông ra dải hồ nước mênh mông (nay đã được ngăn dòng trồng lúa) nối ra bờ
sông Lạch Tray - dòng sông ranh giới tự nhiên giữa hai huyện An Hải và An Lão
(cũ). Từ mặt tiền của đình, du khách và nhân dân có thể phóng tầm mắt quan sát
toàn cảnh khu danh thắng Núi Voi nổi tiếng của Hải Phòng.
Nhân vật được tôn thờ
tại Đình Nhu Thượng
Đình Nhu Thượng thờ hai chị em họ Mai là Mai Thị Cầu và Mai
Kỳ Sơn - người có công với nước, với dân trong cuộc kháng chiến chống quân đô hộ
Đường ở thế kỷ thứ VIII.
Căn cứ vào thần phả, bia ký còn lưu giữ tại di tích, lịch sử
khởi dựng và thờ tự của đình Nhu Thượng gắn liền với cuộc khởi nghĩa chống quân
xâm lược nhà Đường do Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) lãnh đạo vào năm 722. Mai Kỳ
Sơn là con trai Mai Thúc Loan - một chỉ huy lúc bấy giờ. Sau năm 722, cuộc khởi
nghĩa Mai Thúc Loan bị đàn áp, Mai Kỳ Sơn lùi về Điều Yêu Thượng và Nhu Điều
(quê hương của vợ ông là bà Hoàng Thị Đang). Tại đây, ông dựa vào lực lượng
nhân dân địa phương đào hào đắp lũy, xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Nhờ địa
thế hiểm trở bốn bề sông sâu, lầy lội và uốn khúc, nghĩa quân Mai Kỳ Sơn đã nhiều
lần chủ động phục kích, đánh tan các đợt càn quét của quân Đường. Năm 725, Mai
Kỳ Sơn xưng đế, nhân dân thường gọi ông là Bạch Đầu Đế (tức Vua Đầu Bạc, xuất
phát từ truyền thuyết ông có mái tóc bạc trắng từ nhỏ). Không thể đánh bại bằng
binh lực, quân Đường đã dùng mưu gian giả hòa hoãn rồi bất ngờ đánh úp đồn trại.
Trong trận giao chiến ác liệt đó, Mai Kỳ Sơn bị trúng tên độc và hy sinh.
Bà Mai Thị Cầu kết duyên cùng ông Phạm Quỳnh (con ông Phạm
Ngọc Giao) ở xã Điều Yêu, phủ Kinh Môn, đạo Hải Đông (xã Quốc Tuấn, huyện An
Dương, Hải Phòng nay là phường An Hải, thành phố Hải Phòng). Khi mới 24 tuổi,
bà góa chồng. Bà đem toàn bộ lòng nhân đạo giúp đỡ người nghèo khó, chu cấp ruộng
đất, xin miễn thuế, lao dịch cho nhân dân. Khi em trai Mai Kỳ Sơn về xây dựng
căn cứ, bà đã đem hết sức người, sức của giúp em quản lý quân lương và công việc.
Nhận được tin em trai hy sinh, bà Mai Thị Cầu đã nhảy xuống sông tự vẫn ở ngay
đầu cầu quyết không rơi vào tay giặc.
Tấm lòng vì nước vì dân của hai chị em họ Mai đã khiến nhân
dân vô cùng thương tiếc. Người dân 3 làng Nhu Điều, Kiều Thượng và Văn Xá (thuộc
tổng Điều Yêu) đã chung sức dựng miếu, lập đình thờ tự (bao gồm Miếu Đôi, miếu
Một và đình Nhu Thượng). Tương truyền, lúc sinh thời bà Mai Thị Cầu còn cho dựng
hai ngôi chùa Phúc Đồ Tự và Phúc Khảo Tự cho dân làng thờ Phật, đồng thời dặn lại
dân làng không được xây lăng miếu quá tốn kém tiền của nhân dân.
Ngoài hai nhân vật lịch sử là Mai Kỳ Sơn và Mai Thị Cầu, tòa
hậu cung của đình Nhu Thượng còn phối thờ các vị thần: (1) Quý Minh Đại Vương -
Nhân vật thần thoại thời Hùng Vương dựng nước (2) Nam Hải Đại Vương Phạm Tử
Nghi - Danh tướng thời Mạc (thế kỷ XVI), quê ở xã Vĩnh Niệm, huyện An Hải. Đạo
sắc Hưng Đạo Đại Vương: Được ban tặng nhân dịp tu sửa đền Kiếp Bạc năm Đồng
Khánh (1889).
Niên đại và cấu trúc của công trình
Đình Nhu Thượng được khởi dựng ban đầu ở ven bờ sông Lạch
Tray (gần Lạch Mồi). Đến năm 1861 - niên hiệu Tự
Đức thứ 14, do nạn giặc Cờ Đen cướp phá ven sông, dân làng đã di dời ngôi đình
về vị trí hiện nay. Ban đầu, dân làng dựng 3 gian Hậu cung; đến năm Tự Đức thứ
34 (1881), nhân dân tiếp tục dựng 5 gian Tiền đường nối tiếp với Hậu cung, tận
dụng lại nguồn gỗ lim còn tốt từ ngôi đình cũ. Hiện nay, Đình Nhu Thượng được
xây dựng trên một khu đất bằng phẳng, cao ráo, kề cận khu dân cư. Di tích có cấu
trúc kiểu chữ đinh (J) gồm 5 gian tiền đường, gian hậu cung bề thế được xây dựng
theo thức chồng diềm, nóc các, 2 tầng, 8 mái cao vượt hẳn lên so với 5 gian tiền
đường. Tòa Tiền đường có chiều dài 20,6m, rộng 10,2m với bộ khung gồm 24 cột và
6 vì xà. Cột cái có đường kính 40cm, kê trên chân đá tảng 65cmx4; cột con đường
kính 32cm. Kết cấu vì kèo Tiền đường được làm theo kiểu Thuận chồng đấu sen,
phân rải đòn tay kiểu “Thượng tứ hạ ngũ” tạo không gian thoáng rộng và vững
chãi. Mái đình lợp ngói ta, bốn góc đao cong vút đắp nổi họa tiết “Rồng chầu
phượng mớm”. Đặc điểm kiến trúc nổi bật của Tiền đường là nghệ thuật chạm khắc
gỗ tinh xảo ở 2 vì xà gian chính với các đề tài Long cuốn thủy, Phượng mang cuốn
thư, Long vân khánh hội, Cúc trúc hóa long... Đặc biệt, hệ thống 8 đầu dư tại
các cột cái mang hai phong cách nghệ thuật rõ rệt: 5 đầu dư phong cách thời
Nguyễn (mắt lồi, râu cá trê) và 3 đầu dư phong cách thời Hậu Lê (mũi ngắn, râu
lưỡi mác). Sự xuất hiện của 3 đầu dư thời Lê là minh chứng vật thể xác thực cho
việc nhân dân đã tận dụng lại bộ khung gỗ của ngôi đình cũ khi di dời vào năm
1881.Tòa Hậu cung là điểm nhấn kiến trúc độc đáo, được xây dựng theo kiểu Chồng
diềm nóc các 2 tầng 8 mái, cao vọt hẳn so với Tiền đường. Hậu cung gồm 16 cột,
4 vì xà với các cột cái cao tới 5,4m, đường kính 45cm (trong đó có 1 cột bằng gỗ
Chò hoa rất quý hiếm). Trên 4 cây cột cái này vẫn còn khắc ghi rõ họ tên những
người dân địa phương đã cúng tiến gỗ dựng đình năm 1861.
Hiện vật, di vật còn lại
Trải qua nhiều biến động của lịch sử, Đình Nhu Thượng hiện
còn lưu giữ được hệ thống di vật, hiện vật vô cùng phong phú và có giá trị nghệ
thuật cao: (1) Cây đèn cổ bằng gỗ đặt tại gian chính Tiền đường, cao 106cm
(tính cả trụ đỡ). Thân đèn hình trụ tròn chạm rồng sống động, phía trước nhô ra
nhánh môi cong đỡ đĩa đèn, toàn bộ được đặt trên lưng con thú có cơ bắp cuồn cuộn.
(2) Bàn Hương án cổ chế tác bằng gỗ sơn son thếp vàng (168 x 144 x 92cm), chạm
khắc 25 ô hình chữ nhật với các đề tài Tứ linh, Tùng lộc, Long mã, Hổ phù...
Trên hương án đặt bát hương đại men sứ xanh trắng đường kính 32cm cùng lọ hoa
Móng Cái và mâm bồng. (3) Hoành phi, Câu đối và Đồ tế khí: Hệ thống hoành phi gỗ
đề chữ “Đương như tại kỳ thượng”, “Tư tuy bảo hộ bản”, cùng đôi câu đối gấm thếp
vàng dài 4,42m. Bên cạnh đó là 2 cỗ Long đình, 2 bộ Bát bửu sơn son thếp vàng
và cỗ Kiệu bát cống phong cách nghệ thuật thời Nguyễn dùng trong nghi lễ. (4) Hệ
thống Bia ký và Sắc phong: Di tích lưu giữ nhiều tấm bia đá cổ có giá trị sử liệu
cao như Bia Thần tích (lập năm Tự Đức 14 - 1861), Bia Tạc tượng Quý Minh (Tự Đức
9 - 1853), Bia Tư văn (cao 179cm) cùng các bản bia kỷ niệm thời Thiệu Trị, Tự Đức...
Tất cả đều ghi rõ địa danh hành chính cổ của địa phương qua các thời kỳ.
Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Hằng năm, để tưởng nhớ công ơn của các vị thành hoàng và tiền
nhân, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống với đầy đủ các nghi thức
tế lễ trang trọng, rước kiệu và các hoạt động văn hóa dân gian sinh động, góp
phần thắt chặt tình làng nghĩa xóm và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Với những giá trị độc đáo về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật
và hệ thống hiện vật quý giá, Đình Nhu Thượng đã và đang được chính quyền cùng
nhân dân địa phương trân trọng bảo tồn, phát huy, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục
truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau. Đình Nhu Thượng được Nhà nước xếp
hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1991 theo Quyết định số
1057/QĐ ngày 14/6/1991./.