ĐÌNH TÂN DƯƠNG
(Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp quốc gia)
-----
Khái quát về di tích
Đình Tân Dương tọa lạc tại xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Thời Lê - Nguyễn, vùng đất này thuộc xã (làng) Lỗi Dương, tổng Thủy Đường, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Sau này, tên làng Lỗi Dương được đổi thành Tân Dương (từ ngày 01/7/2025 là phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng). Đình có vị trí cách Trung tâm Chính trị - Hành chính thành phố khoảng 3km.
Nhân vật được tôn thờ tại Đình Tân Cương
Cũng như nhiều ngôi đình ở Việt Nam, đình Tân Dương là nơi tôn thờ, ghi nhớ công ơn các vị Thành hoàng của làng. Đình Tân Dương tôn thờ ba vị Thành hoàng là Quý Minh đại vương thượng đẳng thần; Nhập nội hành khiển, tứ kim ngư liệt hầu Trần Phủ Quân và Đông Hải đại vương Đoàn Thượng. Tại Đình còn phối thờ Tứ dương hầu Phạm Tử Nghi (đức Thánh Niệm), Vân Hương đệ nhất Thánh Mẫu (tức công chúa Liễu Hạnh), Vân Hương đệ nhị Thánh Mẫu và Vân Hương đệ tam Thánh Mẫu.
(1). Đức Quý Minh đại vương: Quý Minh là một vị thiên thần, một bộ tướng tâm phúc của vua Hùng Duệ Vương (tức vua Hùng thứ 18) cùng với Cao Sơn đại vương và Tản Viên sơn thánh tạo thành bộ ba dũng tướng của triều Hùng. Tiểu sử, sự nghiệp của ngài có nhiều dị bản khác nhau, nhưng tựu trung lại là một vị trung thần có công với triều Hùng. Quý Minh được thờ ở nhiều nơi trong huyện Thủy Nguyên như Phương Mỹ, Trịnh Xá, Cao Nhân... (nay thuộc phường Thiên Hương và Phường Lê Ích Mộc).
(2). Đức Trần Phủ Quân: Do thần phả bị thất truyền, căn cứ vào sắc phong còn giữ tại di tích, có thông tin cụ thể: Ông là một vị quan to trong triều, chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư sảnh đồng tri, Tri Hải Tây sứ quân dân ba tịch Trần Phủ Quân. Chức ông đảm nhiệm tương đương với Tể tướng, được ban ấn phù hình con cá bằng vàng, được phong tước Hầu cùng coi giữ tòa Thượng thư, đặc trách lo liệu sát xét về sổ quân sổ đinh xứ Hải Tây. Đức Trần Phủ Quân có tên chữ là Tín Thiện, là một vị quan đầu triều, có lẽ vào thời Trần (1226-1400). Tuy nhiên, trong văn bia chùa Đồng Quan, huyện Vĩnh Bảo (nay là xã Vĩnh Thuận) ghi tên các vị thần vương nhà Mạc đóng góp công của dựng chùa, thấy có tên Nam Quan Đô Đốc, Phủ Tả Đô Đốc Trần Phủ Quân, do đó, có lẽ ông là một vị tướng của triều Mạc (1527-1592).
(3). Đức Đông Hải đại vương Đoàn Thượng: Đoàn Thượng là một võ tướng trung thành với vương triều Lý; khi nhà Trần thoán đoạt triều chính, ông chạy về Bần Yên Nhân (Hưng Yên) xây dựng lực lượng cát cứ; ông lập đồn lũy ở nhiều nơi trên vùng đất Hải Phòng hiện nay, trong đó có làng Gia Viên (khu Cảng Hải Phòng, nay thuộc phường Gia Viên và Phường Ngô Quyền) là đồn chính. Mặc dù tư liệu nói về hoạt động của Đoàn Thượng ở Tân Dương còn mỏng, nhưng với vị trí cách đồn Gia Viên qua dòng sông Cấm, cho phép suy luận nơi đây nằm trong phạm vi kiểm soát, xây dựng hệ thống đồn lũy của ông.
Niên đại và cấu trúc của công trình
Đình Tân Dương nằm giữa trung tâm xã Tân Dương (nay thuộc phường Thủy Nguyên), trên một khu đất bằng phẳng, kề bên trục đường liên xã, mặt quay hướng Nam. Từ xa nhìn lại, đình là một công trình có quy mô to lớn và bề thế hiếm thấy ở Hải phòng. Kiến trúc chính gồm 3 tòa được bố cục theo kiểu chữ tam truyền thống, mang ý nghĩa dịch học của người xưa. Nó là biểu tượng của tam tòa gồm thiên - địa - nhân, tức trời - đất và người, cách bố cục này gặp ở chùa Kim Liên, chùa Tây phương (Hà Nội); đình Vân Tra (Hải phòng)...
(1)- Tòa tiền đường: còn gọi là tòa đại đình có quy mô to lớn với kiến trúc năm gian, 4 mái, các bộ phận kiến trúc chính như cột, câu đầu, xà, bẩy... đều bằng gỗ lim nguyên cây thẳng tắp. Khung chịu lực chính là do sự liên kết của 6 bộ vì kèo gồm 4 vì giữa và hai vì hồi, ngôi nhà được dựng bởi 24 cột gỗ lực lưỡng, đường kính trên dưới 50cm. Các cột gỗ đều được kê trên chân tảng đá vôi màu xanh xám có tác dụng chống lún, vừa có tác dụng tránh sự thâm nhập của mối mọt và độ ẩm của xứ nhiệt đới. Chân tảng đá được làm cầu kỳ, như một tác phẩm điêu khắc và ẩn chứa quan niệm về vũ trụ của người xưa. Nó là một khối đá liền, tạo dáng chân tảng gồm ba phần: Thớt dưới vuông là biểu tượng của đất (âm), thớt trên tròn tượng trưng cho trời (dương), thớt giữa hình bát giác biểu tượng của hóa sinh dịch học. Nghĩa là trời đất, âm dương kết hợp, đối đãi nhau mà sinh ra bát quái, rồi từ bát quái sinh ra vạn vật hữu hình, muôn loài sinh sôi nảy nở để thế giới này trường tồn vĩnh cửu. Người xưa mong muốn ngôi đình của làng mình, nơi an tọa của đức thánh hoàng tồn tại mãi mãi với niềm vui và nỗi khổ của dân làng, mà lại hài hòa với lẽ biến hóa của trời đất.
2. Tòa bái đường: Đặc điểm chung: Tòa bái đường (hay còn gọi là cung trong) là một ngôi nhà gồm 5 gian, 4 mái, tuy nhiên quy mô nhỏ hơn nhà tiền đường rất nhiều. Lịch sử trùng tu: Kiến trúc hiện tại của tòa bái đường đã được trùng tu và làm lại hoàn toàn vào thời Nguyễn. Theo các văn tự khắc trên bia đá, công trình này được trùng tu vào năm Giáp Dần (1914), tức là trước khi tu bổ tòa tiền đường ba năm. Kiến trúc đặc thù: Dựa trên kiểu thức kiến trúc, có nhận định cho rằng bộ khung nhà vốn là một dinh thự tư gia được mua lại hoặc cúng tiến để sửa đình. Các bộ phận như cột, xà, câu đầu có sự không cân xứng, đặc biệt là cột có kích thước khá nhỏ (đường kính khoảng 15cm) so với yêu cầu chung của công trình. Kết cấu khung nhà: Tòa nhà đứng vững trên 6 bộ vì kèo được làm bằng gỗ lim, bao gồm bốn vì giữa và hai vì hồi. Mỗi vì kèo được tạo bởi bốn hàng chân cột, gồm hai cột cái và hai cột quân. Riêng tại hai vì trung tâm, cột cái phía trước đã được lược bỏ nhằm tạo không gian rộng rãi cho gian giữa, giúp việc đi lại và hành lễ thuận tiện hơn.
3. Tòa hậu cung: gồm ba gian, với mặt trước mở hệ thống cửa gỗ kiểu “cửa tùng khung khách” dọc theo hàng cột cái phía trước, tạo cho ngôi nhà có hiên rộng và thoáng. Trên các cánh cửa là hệ thống ván lá gió cao tới 1 mét, được để trơn và không trang trí gì. Tòa nhà được dựng bởi 4 bộ vì kèo bằng gỗ lim chắc khỏe. Tường hồi đốc tại đây chỉ có tác dụng che chắn chứ không đảm nhiệm chức năng chịu lực như ở một số công trình khác. Mỗi bộ vì gồm 4 hàng cột, các cột được kê trên chân tảng tương tự như ở tòa tiền đường. Các bộ vì vẫn là kết cấu “kèo suốt trụ chống” và chồng rường quen thuộc. Các bộ phận kiến trúc hoàn toàn được làm theo lối bào trơn đóng bén, không sử dụng hình thức trang trí, ngoại trừ một số đồ án hoa lá cách điệu ở phần bẩy hiên phía trước. Kiến trúc tòa hậu cung được làm mới vào thời Nguyễn - năm Quý Sửu (1913).
Đình gắn liền với sự biến động chính trị cuối thời Lý và quá trình khai phá, lập làng của cư dân vùng Lỗi Dương xưa. Ngôi đình là minh chứng cho sự tiếp nối tín ngưỡng thờ phụng các anh hùng dân tộc tại địa phương. Đồng thời, Đình còn là nơi diễn ra các cuộc hội họp của chức sắc trong làng, là sợi dây liên kết tình làng nghĩa xóm và là biểu tượng của tinh thần tự trị làng xã Việt Nam.
Hiện vật và di vật còn lại
Trong quá trình trường tồn lịch sử với nhiều biến động, số lượng đồ thờ và nghi trượng của đình Tân Dương đã bị hỏng và mất mát nhiều. Di vật tiêu biểu:
(1). Long ngai và bài vị: 01 chiếc, đặt trên ban thờ tòa hậu cung, được sơn son thiếp vàng rực rỡ, mang phong cách nghệ thuật Lê (thế kỷ 18) chạm nổi lưỡng long chầu nguyệt, chầu hoa cúc, hoa cúc mãn khai.
(2). Sập gỗ: 01 chiếc, làm theo lối ngự sàng, trang trí triện văn, hổ phù cách điệu, phượng múa, hoa cúc, rồng. Niên đại Nguyễn, kích thước 2,5m x 2,7m.
(3). Long đình: 02 chiếc, niên đại Nguyễn.
(4). Đại tự: 02 chiếc, một chiếc ghi dòng chữ lớn “Thượng đẳng tối linh”. Dòng lạc khoản cho biết được làm vào năm “Hoàng triều Duy Tân Canh Tuất niên”, tức năm 1910. Chiếc thứ hai tạo dáng hình cuốn thư, nội dung đắp nổi bằng chữ Hán lớn “Ngũ phúc tứ dân”.
(5). Hòm đựng sắc phong: 03 chiếc.
(6). Bia đá: 05 chiếc, trong đó đáng lưu ý là bia Cảnh Hưng thứ 18 (1757), bia Gia Long thứ 10 (1811), bia Tự Đức thứ 29 (1857).
(7). Câu đối: 03 đôi, trong đó có 02 đôi hình lòng máng được chạm khắc cầu kỳ, trang trí tứ linh, tứ quý. Nội dung ca ngợi đức thánh và cõi linh. Câu thứ nhất: Hoàng dung ngũ phúc, tích bắc đào phong nam cẩm hải dương xuân tiên cảnh nhất trùng quang. Vượng phụng tam vô tư tiền Hồng lạc hậu Đông A, Việt quốc sơn hà thiên hữu vẫn. Câu thứ hai: Trùng cổ thành lý giới tử kỳ sinh. Thiên thu kỷ niệm bia công ư dân, công ư quốc. Câu thứ ba: Duy tâm thánh giáng sinh công đức bình phân thiên nhật nguyệt. Dữ bách thần hiển hóa anh linh triều hộ địa giang sơn.
(8). Bát bửu: 01 bộ.
(9). Tượng thánh: Theo hồ sơ di tích, 3 pho tượng thánh có niên đại thời Nguyễn. Tượng được thể hiện ngồi trên ngai rồng trong tư thế thiết triều uy nghi, quắc thước. Tượng có khuôn mặt chữ vương đầy đặn, tai to, mũi thẳng, cánh mũi rộng, mắt mở, nhìn thẳng. Cổ cao ba ngấn, râu rời cắm từ ngoài vào, miệng nhỏ ngậm lại. Thần thái toát lên vẻ cương trực, nhưng khoan dung và từ tâm. Đầu đội mũ cánh chuồn, vành mũ đính trân châu “lưỡng long chầu nguyệt”. Tượng mặc long bào màu huyết dụ, nền áo thêu hổ phù, rồng phượng, long hý thủy mây cụm... Hai tay đặt trên gối, lòng bàn úp, chân đi hài mũi cong.
Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Đình Tân Dương tôn thờ thất vị thánh thần nên hàng năm thường diễn ra nhiều ngày lễ tiết theo ngày thánh đản, thánh hóa và khánh hạ của chư vị. Trong những ngày này dân làng chỉ dùng hương hoa, oản quả, rượu trầu dâng lễ, còn các gia đình tùy tâm biện vật dâng lễ. Hội đình Tân Dương diễn ra trong 3 ngày, từ mồng 10 đến 12/11 âm lịch. Ngoài việc tế thần, lễ thánh được tiến hành trang nghiêm trong đình, trên sân đình diễn ra nhiều trò chơi, văn nghệ cổ truyền như đu tiên, hát ca trù, hát đúm, hát chèo, đấu vật, tổ tôm điếm, cờ người... Lễ hội là nơi người nông dân vui chơi, giải trí lúc nông nhàn, góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt tinh thần cho nhân dân và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Ngày 25/01/1994, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 152-QĐ/BT công nhận Đình Tân Dương là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp quốc gia.