ĐÌNH - CHÙA NHÂN MỤC
(Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia)
-----
Khái quát về di tích
Nhân Mục là thôn thuộc xã Nhân Hòa,
huyện Vĩnh Bảo (nay thuộc xã Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Trước đây, Nhân Mục
là một xã của tổng Kê Sơn. Tổng Kê Sơn gồm 10 xã, thôn, mỗi xã đều có một ngôi
đình chung mang tên làng quê mình, bởi vậy ngôi đình do Nhân dân Nhân Mục xây dựng
được gọi là đình Nhân Mục. Đình Nhân Mục cách Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Bảo
khoảng 1km về phía Đông Nam.
Chùa và đình Nhân Mục kết hợp với
nhau thành một tổng thể công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, tôn giáo tín ngưỡng
truyền thống của một làng quê văn hiến. Đến với đình - chùa Nhân Mục du khách
sẽ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Đình - chùa
không chỉ lưu giữ những tài sản văn hóa quý báu của địa phương mà còn phản ánh
đời sống văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của Nhân dân Nhân Mục.
Nhân vật được tôn thờ tại Đình
- Chùa Nhân Mục
Dựa vào bản thần tích ngọc phả hiện
còn lưu giữ tại di tích do Hàn lâm Viện đồng các Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn
năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) và dịch theo bản sao ngày 23/2/1973 của các
ông Nguyễn Hữu Lung, Nguyễn Văn Man, Trần Văn Viêm, Trần Văn Thức... người địa
phương, cho biết đình Nhân Mục thờ 3 vị tướng sĩ tài ba, có công xây thành đắp
lũy chống giặc bảo vệ quê hương, đất nước, khai khẩn đất hoang, mở rộng xóm
làng, dạy dân cấy lúa, chăn tằm dệt lụa... tên là Sơn Thánh, Sùng Công và Hiển Công. Sơn
Thánh được phong làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần; Sùng Công được phong Cao
Sơn đại vương, Hiển Công được phong Quý Minh đại vương. Hai ông Sùng Công và
Hiển Công được giao việc giúp đỡ, phù giá dưới trướng của Tản Viên Sơn Thánh.
Chùa Nhân Mục có Phật điện bố cục
theo chữ đinh quen thuộc gồm 5 gian tiền đường và ba gian hậu cung. Phía sau
Phật điện, cách một khoảng sân rộng lát gạch vuông là tòa thờ Tổ với bố cục
tương tự điện phật cũng 5 gian tiền đường và 1 gian hậu cung. Bên phải tòa thờ
Tổ là tòa nhà trai phòng 5 gian nhìn ra vườn chủa nơi an tọa của hai ngôi tháp
mộ sư Tổ to lớn không kém gì một công trình kiến trúc 3 tầng chồng diêm.
Niên đại và cấu trúc của công trình:
Đình Nhân Mục là một tòa kiến trúc
cổ kính có quy mô khá lớn và bề thế, bố cục theo lối chữ công (I) truyền thống.
Đình quay hướng Đông Nam gồm 5 gian tiền đường, 1 gian ống muống và ba gian hậu
cung. Hiên đình rộng được bó bằng những phiến đá xanh liền khối, mở xuống sân
lát gạch chỉ phẳng phiu và rộng rãi. Mái đình rộng và thấp, rêu phong cổ kính
trang trí khá cầu kì. Bờ nóc đắp bằng vôi vữa để trơn không trang trí gì. Đầu
kìm đắp "hồi long" lớn mang dáng dấp thủy quái Ma-ka-ra cầu mưa thuận
gió hòa. Góc mái đắp hình nghê chầu nhìn sang nhau, hai chân trước dẫm lên mái
ngói, hai chân sau đạp lên bờ dải trong động tác lao xuống.
Hệ thống đao đình Nhân Mục được làm
khá cầu kỳ, uốn lượn tạo cảm giác mềm mại, uyển chuyển. Đao cong đắp rồng chầu
phượng mớm theo lối tượng tròn quen thuộc. Tiền đường 5 gian cao rộng đứng vững
trên 6 bộ vì kèo gỗ và hai tường hồi. Mỗi bộ vì gồm 4 hàng chân cột (2 cột cái
và 2 cột quân) các cột lực lưỡng, chu vi lên tới 1,8m. Cột đình được kê khít
trên chân tảng đá vôi xám kiểu tròn trên vuông dưới có tác dụng chống lún và
chống mối mọt, chỉ cần nhìn hệ thống các cột đình, chúng ta đã phần nào hình
dung được sự đóng góp công của to lớn của Nhân dân địa phương và những khó
khăn, sáng tạo trong việc xây dựng công trình.
Kiến trúc đình Nhân mục còn bảo lưu
được nhiều yếu tố kiến trúc truyền thống và là một công trình có giá trị về kiến
trúc nghệ thuật trong hệ thống di tích của địa phương. Đình Nhân Mục là một
công trình kiến trúc nghệ thuật, đồng thời là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm điêu
khắc và đồ thờ tự có giá trị.
Chùa Nhân Mục quay hướng chính Tây.
Mái chùa lợp ngói mũi hài nhỏ đã xanh rêu mốc càng làm tăng dáng vẻ cổ kính cho
công trình. Theo vị Ni sư cao niên trụ trì tại chùa cho biết: Trên Phật điện từ
lâu rồi không có bộ tượng tam thế mà vị trí trang trọng đó được giành cho bộ
tượng Di đà Tam tôn. Dựa vào hệ thống phân loại và định hình tượng Phật giáo
được nghiên cứu của Viện mỹ thuật Việt Nam có thể xác định hoặc bước đầu nhận
định bộ Di đà Tam tôn của chùa Nhân Mục được làm vào Thế kỷ XVIII. Bộ tượng này
khá lớn mang nhiều nét kế thửa trực tiếp từ tượng phật giáo thời Mạc.
Pho A di đà ngồi trên đài sen, toàn
bộ cao 1,4m, hình thức tượng A di đà so với các tượng cùng loại thời sau ít có
sự thay đổi. Tượng bên phải A di đà, tên phạm của tượng là Đại Thế Chí Bồ Tát.
Đại thế chí tượng trưng cho trí tuệ, còn Quan âm là biểu hiện của từ bi. Cả trí
tuệ và từ bi hợp với nhau thành chính giác là Phật A Di đà. Di đà Tam Tôn nhằm
dẫn dắt chúng sinh vào cõi cực lạc, trong đó Đại thế chi Bồ Tát dùng oai thần
giúp chúng sinh thoát khỏi "Vô minh" tránh được nẻo đữ... Pho tượng Đại
thế chí ở đây hình thức khá đẹp, về chi tiết mang nhiều nét kế thừa tượng phật
của Thế kỷ XVI.
Dưới hàng tượng A di đà Tam tôn là
bộ tượng Thích ca niệm hoa, pho ngồi giữa trên đài sen là Đức thế tôn, dáng vẻ
ưu tư, tóc xoắn kiểu bụt ốc, cổ hơi cúi xuống, mắt nhìn thẳng, khuôn mặt đầy
đặn, tay phải giơ ngang vai cầm đóa sen mãn khai tượng trưng cho ánh sáng phật
pháp, tay trái đặt trước bụng.
Chùa Nhân Mục với số lượng tượng
pháp không nhiều, ngoài những pho vừa điểm ở trên còn một số pho tượng khác có
giá trị nghệ thuật không kém là Quan âm Tổng Tử, Thánh Tăng, Ngọc Hoàng và Nam
Tào Bắc Đẩu; Thích Ca Sơ Sinh; Hộ Pháp Khuyến Thiện, trừng ác, Đức ông cấp cô
Độc, ba pho tượng Tổ... Đây là những tác phẩm nghệ thuật chịu ảnh hưởng sâu
nặng của phong cách nghệ thuật dân gian nở rộ ở miền biển viễn Đông Bắc Tổ
quốc, nơi ít chịu ảnh hưởng và sự kìm hãm bởi văn hóa cung đình.
Hiện vật, di vật còn lại
Hiện nay, đình còn lưu giữ 01 chiếc
kiệu bát cống là di vật mang phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVIII); 03 sập
gỗ có hình thức tương tự nhau được kê làm nhang án đặt giữa gian trung tâm của
tòa tiền đường, tả gian và hữu gian; 02 chiếc đẳng gỗ, hình dáng tương tự chiếc
bàn gỗ 4 chân, chạm nổi và chạm thủng trang trí lưỡng long chầu nguyệt, phượng
hàm thư, đồ bát bửu, niên đại Thế kỷ XIX, kích thước dài 1,2m, rộng 0,45m; cao
0,95m; 01 đôi quán tẩy, tạo dáng trúc hóa long, đỉnh có con chim khổng tước,
chân tạo khối thủy ba có cá chép hóa rồng, sư tử rất sống động; 01 cây đèn gỗ tạo
dáng một con rồng lớn quẩn quanh cây trúc đài cao 1,35m; 01 đôi tượng phượng
rùa, phượng đứng trên lưng rùa được đặt trên giá gỗ có bánh xe đẩy, cao tới
2,2m; 01 đôi tượng ngựa chiếu hồng bạch, ngựa trắng đặt bên phải (hướng Bắc)
tượng trưng cho mặt trăng (yếu tố âm), ngựa hồng đặt bên phải (hướng Nam) tượng
trưng cho mặt trời (yếu tố dương)…và nhiều hiện vật, di vật giá trị khác. Những
di vật đang được bảo tồn là những mảng thực của đời sống, của nghệ thuật dân
tộc góp phần tìm hiểu về quá khứ và con người ở một miền quê văn hiến.
Chùa Nhân Mục ra đời vào thời gian
nào? Hiện vẫn chưa tìm thấy tài liệu chân xác để giải đáp. Dấu vết xưa cũ nhất
hiện tồn là đôi sấu đá đặt trước hiên tòa tiền đường. Sấu được làm từ phiến đá
liền khối, dài 95cm, cao 40cm, lưng phủ một số đao nổi hình mũi mác lớn, đặc
biệt là dưới cằm có đôi râu hình đao mác bện xoắn thừng. Sấu đá ở đây giống hệt
những con vật cùng loại đã được xác định chính xác niên đại thế kỷ XVI (thời
Mạc) ở chùa Trà Phương, Nhân Trai, Hòa Liễu (Kiến Thụy), Đông linh (Tiên Lãng)...Có
lẽ, trong thời Mạc chùa Nhân mục có quy mô to lớn không kém các cảnh phật nổi
danh khác, những phiến đá xanh bó nền, xây hiên, ghép cầu... nằm rải rác đó đây
quanh vườn chùa cũng đã góp phần cùng đôi sấu đã mách bảo điều ấy.
Trước cửa tòa tiền đường còn bảo lưu
cây trúc đài bằng đá, dòng lạc khoản khắc ghi năm tháng khởi dựng là Chính Hòa
năm thứ 10(1690). Nhưng dựa vào các dòng chữ Hán lưu lại trên kiến trúc của
chùa thì ngôi chùa hiện tại được trung tu vào năm 1877 (Nhâm Tuất) do công sức
của nhân dân địa phương và lòng hảo tâm của thiện nam tín nữ bốn phương.
Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Khác với nhiều làng quê ở đồng bằng
châu thổ sông Hồng, hội làng Nhân Mục trước đây không diễn ra ở đình mà diễn ra
tại đền, theo truyền thống lễ hội được lưu truyền ở địa phương. Đền Nhân Mục
xưa có quy mô to lớn và bề thế không kém đình Nhân Mục ngày nay. Đền gồm 3 lớp
nhà kế tiếp nhau là 5 gian tiền đường, 3 gian trung đường và 2 gian hậu cung.
Hiện nay đền không còn nữa, mọi hoạt động văn hóa và lễ hội cổ truyền của dân
thôn đều được hội tụ tại đình làng. Nói đến hội làng Nhân Mục là mọi người nhớ
đến nghệ thuật múa rối nước. Vì thế việc bảo tồn di tích cần gắn với việc gìn
giữ và bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa rối nước.
Những năm trời đại hạn, nước cho
nghề nông bị thiếu, mọi cố gắng dùng sức người đưa nước về đồng bằng bằng gầu
dây, gầu sông... bất lực, người nông dân Nhân Mục trước đây đã tổ chức những
buổi lễ cầu mưa tại đền và đình của mình. Đền Nhân Mục được xếp vào loại linh
từ, nơi "quốc lễ, dân cầu" của địa phương. Hội làng Nhân Mục còn có
nhiều trò chơi hoạt động khác thu hút sự tham gia đông đảo của du khách trảy
hội như cờ tướng, hát đúm, đám rước thần vị thánh từ đình về đền... Ngoài ngày
hội chính mồng 10 tháng 3, đình Nhân Mục có các ngày lễ khác đáng chú ý như
ngày mồng 7 tháng 1 âm lịch là ngày thánh đản, ngày 12 tháng 11 là ngày thánh
hóa.
Cụm di tích đình và chùa Nhân Mục là
những công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn nguyên vẹn ẩn chứa nhiều giá trị
lịch sử và văn hóa. Bản thân cụm di tích đã như là một bảo tàng nghệ thuật thu
nhỏ với của di vật có niên đại trải dài từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20. Thật hiếm
có một làng xã nào còn gìn giữ được nguyên trạng các công trình kiến trúc tôn
giáo tín ngưỡng cổ như ở Nhân Mục. Cụm di tích không chỉ là nơi bảo quản các cổ
vật sáng giá mà còn là hạt nhân bảo tồn các hoạt động văn hóa, lễ hội cổ truyền
như rối nước, tế lễ, hội hè... và các tập quán tốt đẹp của dân tộc.
Xét
giá trị lịch sử văn hoá nghệ thuật, cảnh quan môi trường mà di tích đang hàm
chứa, ngày 12/12/1994, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định số 3211/QĐ-BT công nhận
Đình - Chùa Nhân Mục là Di tích Kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc gia./.