MIẾU, CHÙA CỰU ĐIỆN
(Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia)
Khái
quát về di tích
Miếu,
Chùa Cựu Điện nằm tại thôn Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải
Phòng (nay thuộc xã Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Đây là một trong những di
tích lịch sử văn hóa có giá trị đặc sắc của địa phương, gắn liền với tín ngưỡng
thờ nhân vật lịch sử và truyền thuyết với truyền thống đấu tranh giữ nước thời
Lý và đời sống văn hóa tâm linh lâu đời của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.
(1) Miếu Cựu Điện
Nhân vật được tôn thờ
Căn
cứ vào bản thần tích miếu Cựu Điện, do Hàn Lâm Viện Đông các đại học sĩ Nguyễn
Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên 1572; Quản Giám Bách Linh Tri Điện đời Lê
Vĩnh Hựu (1735) là Đại học sĩ Lê Trung sao lại chính bản thì miếu Cựu Điện có từ
thời Hậu Lý do dân làng lập nên để thờ ông Kim An, quê ở Châu Ái (Thanh Hóa),
là Phó tướng của danh tướng Lý Thường Kiệt.
Năm
1076, giặc Tống ở phía Bắc hợp cùng quân Chiêm thành ở phía Nam đem 5 đạo quân
Thủy bộ vào xâm chiếm nước Đại Việt. Triều đình cử Lý Thường Kiệt làm đại tướng
quân tổng chỉ huy quân sĩ. Khi nghe tin tướng chiêu mộ người tài, ông Kim An
tình nguyện đầu quân, được vua Lý phong chức “Phó tướng đô chỉ huy xứ” cho đem
một đạo quân cùng Lý Thường Kiệt và các tướng lĩnh khác tiến về phía Đông Bắc.
Đến đạo Hải Dương, phủ Hạ Hồng, huyện Vĩnh Lại, trang Cựu Điện thấy nơi đây cảnh
đẹp, đường ngõ thuận hành nên sai quân thiết lập dinh đồn tại đây. Dưới sự chỉ
huy tài tình của Lý Thường Kiệt, chiến dịch tiến công của quân ta giành thắng lợi
vào ngày 10/3 âm lịch. Sau thắng trận, đoàn quân của ông Kim An trở lại nơi đóng
quân là trang Cựu Điện, khao thưởng dân. Các vị bô lão tâu với ông An rằng, từ
khi đồn binh đóng ở trang Cựu Điện, trộm đạo, giặc dã không dám quấy nhiễu nhân
dân, mùa màng tốt tươi, dân chúng làm ăn thuận lợi, ơn này thấm mãi ngàn năm. Sau
khi ngài mất, để tỏ lòng biết ơn, dân làng đã tôn thờ ngài làm Thành Hoàng để
thờ, cúng mãi mãi.
Niên
đại và cấu trúc của công trình
Theo
các bậc cao niên trong làng truyền lại, ngôi miếu ban đầu được dựng khá đơn sơ.
Trải qua nhiều thế kỷ cùng với sự phát triển của làng xã, miếu được mở rộng và
tôn tạo ngày càng khang trang. Đặc biệt, năm Duy Tân thứ bảy (1913), nhân dân
và các chức sắc địa phương đã tiến hành một đợt quy hoạch, xây dựng quy mô lớn,
đưa Miếu Cựu Điện trở thành một trong những công trình tín ngưỡng có kiến trúc
bề thế nhất vùng Vĩnh Bảo lúc bấy giờ.
Trên
diện tích hơn 4.300m², toàn bộ khu di tích được quy hoạch thành một quần thể kiến
trúc liên hoàn, khép kín và hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Miếu quay hướng
Bắc, được xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” - một dạng thức kiến trúc
truyền thống tiêu biểu trong các công trình tín ngưỡng Việt Nam. Toà hậu cung
cao ngất làm theo lối “chồng diêm nóc các” với mái 9 nóc, vòm cuốn, lan can trụ
cổ bồng gắn men sứ lấp lánh. Đỉnh nóc là hai toà lầu nhỏ đứng song hành nổi bật
dòng chữ Hán gắn bằng mảnh gốm sứ với nội dung “đăng cao- tiềm vọng” nghĩa là
đèn cao, chiếu xa với vị trí bao quát của đỉnh thượng toà hậu cung. Đây cũng là
phần kiến trúc còn nguyên vẹn của toà miếu. Tại đây trong lòng thập điện nguy
nga là nơi an vị thần tượng danh tướng An Tấn- Thành hoàng của làng. Kế đó là
nhà đại bái 3 gian được phân cách bằng ba khung cửa võng được chạm trổ cầu kỳ,
sơn son thiếp vàng rực rỡ.
Hai
bên sân là nhà chiêng, nhà trống mới được phục dựng. Đó là hai toà lầu hình lục
lăng, 2 tầng, 8 mái, làm theo lối cổ tạo nên vẻ đẹp hài hoà và sự hoành tráng của
khu di tích, đồng thời là nơi gửi gắm ước mơ của người trần tục về cõi niết
bàn, bồng lai tiên cảnh.
Trước
toà miếu là hồ nước, trong hồ có núi non bộ tạo cảnh non xanh nước biếc. Đường
lên núi có hổ phục, voi chầu rất sinh động, khiến cảnh sơn thuỷ hữu tình, tạo
thế bền vững trường tồn theo thuyết phong thuỷ “tiền tam sơn, hâụ ngũ nhạc”.
Đây là một công trình non bộ có quy mô lớn và độc dáo của di tích, có đủ cổ thụ,
suối, khe, thiền am, có đài Điếu Ngự theo tích cổ. Đặc biệt tại đây còn lưu giữ
tấm bia đá, niên đại năm 1928, ghi lại việc dân làng đắp núi non bộ cùng ngôi
chùa mang tên “Khổng tước tự”, ngôi chùa thiêng mà cha mẹ vị tướng quân Kim An
đã tới nguyện cầu trước khi sinh ra ông.
Trải
qua các triều đại Trần, Lê đến các đời vua Lê Trung Hưng, Nguyễn, Tây Sơn đều
có sắc phong cho Thành Hoàng trang Cựu Điện.
Trải
qua chiến tranh và những biến động lịch sử, nhiều hạng mục kiến trúc của Miếu Cựu
Điện đã bị phá hủy hoặc xuống cấp. Tuy nhiên, phần hậu cung cùng một số công
trình phụ trợ vẫn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, trở thành những tư liệu
quý giá giúp nghiên cứu về lịch sử kiến trúc tín ngưỡng của địa phương.
Hiện
vật, di vật còn lại
Không
chỉ có giá trị về kiến trúc, Miếu Cựu Điện còn lưu giữ số lượng lớn hiện vật, cổ
vật có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật cao. Hiện nay, di tích còn bảo quản
hàng chục hiện vật thuộc nhiều chất liệu khác nhau như đồng, gốm sứ, đá và gỗ. Tiêu
biểu có bộ ngũ sự bằng gốm men hoa lam gồm đỉnh hương, đôi chân đèn và đôi bình
hoa; các chóe mộc dục dùng trong nghi lễ truyền thống; nhiều cặp lộc bình trang
trí hoa văn tinh xảo; đôi ngựa thờ bằng gỗ có kích thước lớn; tượng hạc đứng
trên lưng rùa mang ý nghĩa biểu tượng cho sự trường tồn và hòa hợp âm dương.
Đặc
biệt, Miếu Cựu Điện hiện còn lưu giữ cỗ kiệu bát cống được chạm khắc công phu,
thể hiện sự chuyển tiếp trong nghệ thuật trang trí từ cuối thời Lê sang thời
Nguyễn. Cùng với đó là các bức hoành phi, câu đối, tượng quan văn, quan võ, các
bia đá ghi công đức và đặc biệt là hệ thống sắc phong của các triều đại phong
kiến. Theo thống kê, di tích từng có tới 26 đạo sắc phong, hiện còn lưu giữ được
12 đạo sắc có niên đại từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Đây là nguồn tư liệu
lịch sử hết sức quý giá, góp phần làm rõ vị thế và giá trị của di tích trong đời
sống cộng đồng cư dân địa phương.
Sinh
hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Lễ hội
truyền thống Miếu Cựu Điện được tổ chức hằng năm nhằm tưởng nhớ công lao của Đức
Kim An. Trong đó, ngày 10 tháng Ba âm lịch là ngày hội lớn kỷ niệm chiến thắng
của vị tướng quân. Lễ hội thường kéo dài từ ngày 10 đến ngày 12 tháng Ba với
nhiều hoạt động văn hóa dân gian phong phú như cờ tướng, đốt cây bông, múa lân,
hát chèo, đấu vật và nhiều trò chơi truyền thống khác.
Một
nét đặc sắc làm nên giá trị riêng của lễ hội Cựu Điện là nghệ thuật múa rối nước
cổ truyền - chính thức được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
vào tháng 4 năm 2021. Đây là một trong số ít địa phương ở miền Bắc còn bảo tồn
được loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này. Trong nhiều năm qua, các nghệ
nhân cao tuổi của địa phương đã không ngừng truyền dạy cho thế hệ trẻ, góp phần
giữ gìn và phát huy di sản văn hóa quý báu của cha ông.
(2) Chùa Cựu Điện, tên chữ là Phúc Lâm
Tự, cùng với Miếu Cựu Điện, ngôi chùa tạo thành một quần thể di tích tín ngưỡng,
văn hóa có lịch sử lâu đời, gắn bó mật thiết với quá trình hình thành và phát
triển của vùng đất Nhân Hòa. Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, chùa không chỉ là
nơi sinh hoạt tôn giáo của nhân dân địa phương mà còn lưu giữ nhiều giá trị lịch
sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, đồng thời là địa điểm ghi dấu nhiều
sự kiện cách mạng quan trọng trong các cuộc kháng chiến của dân tộc.
Theo
các tài liệu lịch sử và truyền ngôn địa phương, ngôi chùa đã trải qua nhiều lần
thay đổi vị trí và tên gọi. Thuở ban đầu, chùa được xây dựng với quy mô nhỏ,
đơn sơ nên thường được gọi là chùa Am hoặc chùa Trình. Đến năm Vĩnh Hựu thứ hai
(1737), chùa được chuyển về phía tây bắc làng và mang tên Tâm Thanh Tự. Năm Tự
Đức nguyên niên (1848), chùa tiếp tục được di dời về vị trí hiện nay, nằm cạnh
Miếu Cựu Điện và được đặt tên là Phúc Lâm Tự. Tên gọi này được duy trì cho đến
ngày nay.
Niên
đại và cấu trúc của công trình
Chùa
Phúc Lâm Tự nằm trong khuôn viên quần thể Miếu - Chùa Cựu Điện, được quy hoạch
hài hòa với cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc truyền thống. Từ trung tâm xã
Nhân Hòa (cũ), qua cổng làng cổ và khu vực Miếu Cựu Điện, du khách có thể dễ
dàng tiếp cận khuôn viên chùa. Trải qua nhiều lần trùng tu, mở rộng, chùa vẫn
giữ được không gian thanh tịnh, cổ kính với hệ thống sân vườn, cây cổ thụ và
các công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn truyền thống.
Theo
tư liệu địa phương, kiến trúc hiện nay của chùa được xây dựng vào năm 1932 sau
ba lần di chuyển địa điểm. Công trình chính gồm tòa Phật điện và nhà thờ Tổ
cùng quay mặt về hướng Tây. Tòa Phật điện được xây dựng theo mặt bằng hình chữ
“Đinh” (J), gồm năm gian tiền đường và ba gian hậu cung. Hệ thống kết cấu khung
gỗ được làm theo kiểu giá chiêng truyền thống với sáu bộ vì và hai mươi bốn cột
gỗ lớn tạo nên sự vững chãi, bề thế cho công trình.
Một
trong những nét đặc sắc của chùa Cựu Điện là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc
truyền thống và những yếu tố trang trí mang phong cách đầu thế kỷ XX. Phần hiên
phía trước được thiết kế rộng, nền cao, mái hiên xây kiểu vòm cuốn tạo cảm giác
thông thoáng. Trong khi đó, hệ thống bẩy, kẻ, câu đầu và các cấu kiện gỗ vẫn giữ
được những nét chạm khắc truyền thống với các đề tài lá lật, chữ triện và hoa
văn trang trí đặc trưng của nghệ thuật thời Nguyễn.
Bên
cạnh tòa Phật điện là nhà thờ Tổ - nơi thờ các vị sư từng trụ trì tại chùa.
Trong đó có tượng chân dung bà Vũ Thị Thiên, pháp hiệu Diệu Nam, người đã có
nhiều công lao đóng góp tài sản, ruộng đất để xây dựng và phát triển ngôi chùa.
Khuôn viên chùa còn có hai ngôi tháp cổ, sân vườn rộng rãi cùng nhiều cây cổ thụ
tạo nên không gian thanh tịnh, trang nghiêm.
Hiện
vật, di vật còn lại
Không
chỉ có giá trị về kiến trúc, Chùa Cựu Điện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý có
giá trị lịch sử và nghệ thuật cao. Trong số đó nổi bật nhất là hệ thống tượng
Phật được bảo quản khá nguyên vẹn. Hiện nay, chùa còn lưu giữ 18 pho tượng Phật
với nhiều kích thước và phong cách nghệ thuật khác nhau. Đặc sắc nhất là tòa Cửu
Long với hình tượng Đức Phật Thích Ca sơ sinh đứng giữa, một tay chỉ trời, một
tay chỉ đất, bao quanh là chín con rồng được tạo tác công phu. Tòa Cửu Long là
một trong những hiện vật Nghệ thuật Phật giáo tiêu biểu được lưu giữ tại Chùa Cựu
Điện. Ngoài ra, chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng Phật khác như tượng Tam Thế,
tượng A Di Đà, tượng Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Nam Tào, Bắc
Đẩu cùng nhiều tượng hộ pháp được chế tác tinh xảo. Các pho tượng phần lớn có
niên đại cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, phản ánh trình độ nghệ thuật điêu
khắc dân gian khá cao của các nghệ nhân đương thời.
Di
tích hiện còn lưu giữ quả chuông đồng lớn được đúc vào năm Tự Đức nguyên niên
(1848), một tấm bia đá hậu Phật có niên đại năm Vĩnh Hựu thứ hai (1737) được
chuyển từ vị trí chùa cũ về đây cùng nhiều bức đại tự mang giá trị lịch sử và
nghệ thuật. Những hiện vật này là nguồn tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu
lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của địa phương.
Bên
cạnh những giá trị văn hóa tín ngưỡng, Chùa Cựu Điện còn là địa điểm gắn liền với
nhiều sự kiện lịch sử cách mạng quan trọng của huyện Vĩnh Bảo và thành phố Hải
Phòng (cũ). Trong thời kỳ vận động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945, chùa là nơi hoạt động của nhiều cán bộ yêu nước. Từ năm 1936 đến năm
1945, nhà sư Thanh Thủy vừa tu hành vừa tham gia các hoạt động cách mạng bí mật,
góp phần tạo điều kiện cho hoạt động cách mạng tại địa phương.
Trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa trở thành nơi liên lạc, hội họp và cất
giấu tài liệu của cách mạng. Năm 1948, đây từng là nơi đặt cơ quan của Huyện bộ
Việt Minh huyện Vĩnh Bảo. Chùa cũng là địa điểm nuôi giấu cán bộ và hỗ trợ hoạt
động của lực lượng kháng chiến trong vùng.
Trong
thời kỳ chống Mỹ cứu nước, chùa tiếp tục được sử dụng phục vụ nhiệm vụ cách mạng.
Năm 1967, Bệnh viện Vĩnh Bảo sơ tán về đây. Năm 1971, Huyện ủy Vĩnh Bảo từng sử
dụng khu vực chùa làm nơi làm việc. Những dấu ấn lịch sử đó đã góp phần làm nên
giá trị đặc biệt của ngôi chùa trong tiến trình đấu tranh cách mạng của địa
phương.
Sinh
hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Ngày
nay, Chùa Cựu Điện không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của
nhân dân mà còn là địa điểm giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho thế hệ
trẻ. Cùng với Miếu Cựu Điện, ngôi chùa tạo nên một quần thể di tích có giá trị
tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và cách mạng trong không
gian văn hóa của vùng đất Vĩnh Bảo anh hùng.
Trải
qua hàng trăm năm tồn tại, Miếu - Chùa Cựu Điện vẫn lưu giữ được nhiều giá trị
quý báu của cha ông để lại. Những giá trị đó không chỉ góp phần làm phong phú đời
sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư địa phương mà còn là nguồn lực quan
trọng phục vụ công tác bảo tồn di sản, giáo dục truyền thống và phát triển du lịch
văn hóa trong thời kỳ mới.
Với
những giá trị tiêu biểu đó, ngày 12/12/1994, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định
số 3211/QĐ-BT công nhận Miếu - Chùa Cựu Điện là Di tích Lịch sử và Nghệ thuật cấp
Quốc gia./.