DI
TÍCH ĐÌNH LỄ HỢP
(Di
tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia)
Khái quát về địa
điểm di tích
Đình Lễ Hợp tọa lạc tại thôn Lễ Hợp, xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, nay thuộc xã Vĩnh
Bảo, thành phố Hải Phòng. Từ xa xưa, công trình này tôn thờ Đức Thành hoàng của
dân làng Lễ Hợp, thuộc huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, đạo Hải Dương xưa. Trải
qua hàng thế kỷ biến thiên của lịch sử, tên đình và tên làng luôn gắn bó mật
thiết với nhau, chưa hề thay đổi mà vẫn giữ nguyên cổ danh Lễ Hợp.
Về mặt địa lý, xã Tam Đa nằm trên
vùng đồng bằng sa bồi ven biển, sông, màu mỡ và bằng phẳng, được bao bọc và tưới
mát quanh năm bởi dòng sông Thái Bình ở phía Đông, sông Đơn - một chi lưu của
sông Thái Bình ở phía Bắc và dòng sông đào Chanh Dương ở phía Tây. Địa hình tự
nhiên nơi đây đã hình thành từ khoảng 11 nghìn năm trước. Cư dân cổ bắt đầu đến
định cư vững chắc tại vùng đất hạ lưu này từ đầu Công nguyên (cách ngày nay khoảng
2000 năm). Minh chứng khảo cổ học đặc biệt quý giá là vào năm 1970, tại cánh đồng
Lập Nâm thuộc thôn Lễ Hợp, các nhà khoa học đã phát hiện và khai quật một ngôi
mộ cổ hình thuyền chôn sâu dưới lòng đất. Quan tài mộ thuyền làm bằng một thân
cây gỗ to nguyên khối đường kính 75cm, chiều dài 2,15m, gồm hai nửa nắp và thân
khớp nhau hoàn hảo, cốt gỗ vẫn còn rất tốt. Đây là dấu ấn vật chất khẳng định
tiến trình lập làng, tụ cư vô cùng lâu đời của các thế hệ tiền nhân trên mảnh đất
cửa sông này.
Nhân vật được
tôn thờ tại đình Lễ Hợp
Đình Lễ Hợp là nơi thờ phụng Đức
vị Thành hoàng làng - Tướng quân Phạm Đàm, một danh tướng kiệt xuất có công lao
to lớn trong cuộc khởi nghĩa vũ trang toàn dân chống lại ách đô hộ của nhà Đông
Hán dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 (thế kỷ thứ I sau
Công nguyên). Sự tích về thân thế và sự nghiệp cứu nước của Ngài được ghi chép
rất trang trọng trong thần tích ngọc phả còn lưu giữ tại di tích.
Khi Hai Bà Trưng truyền lệnh khởi
nghĩa ở cửa sông Hát, tướng quân Phạm Đàm lập tức đem nghĩa dũng trang Lễ Hợp
cùng toàn bộ binh lương về hội quân tại Mê Linh. Ngài dũng cảm chỉ huy quân sĩ
đánh thẳng vào thủ phủ Luy Lâu, đánh đuổi Tô Định, thu phục 65 thành trì. Với
chiến công hiển hách, Ngài được Trưng Nữ Vương sắc phong chức vụ “Thống chế
kiêm Thủy đạo Nguyên soái”.
Niên đại và cấu
trúc của công trình
Về
niên đại lịch sử, Đình
Lễ Hợp là công trình kiến trúc nghệ thuật cổ có quy mô to lớn và bề thế nhất được
tiền nhân truyền lại cho mảnh đất Tam Đa. Bản thần phả bằng chữ Hán lưu trữ tại
đình do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên
niên (1572) và Quản giám Bách thần tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền
phụng sao vào năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) đã chứng minh di tích có lịch sử khởi dựng
rất lâu đời.
Cấu
trúc công trình,
đình Lễ Hợp, xã Tam Đa toạ lạc trên dải đất phía Tây bắc Làng. Mặt chính đình
quay hướng Tây cùng hướng với ngôi chùa thờ Phật. Kiến trúc đình kiểu chữ đinh
(J), có 5 gian tiền, 2 gian cung chuôi vồ. Mái đình được lợp ngói ta hai lớp.
- Toà
tiền tế
5 gian, có 6 vì gỗ, loại 4 hàng cột một vì. Kết cấu vì nóc kiểu trụ chồng giá
chiêng. Khung giá chiêng được tạo bởi 2 trụ gỗ tròn có đầu gỗ tạo dáng bông sen
ngửa. Hai trụ đỡ khung đỡ đế gỗ vát hình thang ngửa, phía trên đế gỗ là thanh
thượng lương (chồng nóc) chạy suốt 6 vì gỗ. Dưới khung giá chiêng vì nóc là câu
đầu, nối hai đầu cột cái. Dưới câu đầu nối liền hai cầu cột cái trong mỗi vì được
tạo hình đầu rồng, có đủ phần râu, tóc, mắt lồi, lưỡi rồng đè lên viên ngọc. Cột
cái liên kết với cột quân trong mỗi vì qua hệ thống tiền kẻ hậu bẩy. Các hàng
vì cột được liên kết với nhau bằng các thanh xà thượng, bào trơn đóng bén. Phía
dưới liên kết các cột quân được nối liền bằng các thanh xà hạ. Chính giữa mặt
trước ngồi đình là 3 bộ cửa (6 cánh cửa) cửa thùng khung khách. Phần hiên đình
cao 30 cm, rộng 100 cm, ngưỡng gỗ cao 25 cm chạy suốt 5 gian tiền đình.
Từ phần phía trong của vì trung
tâm, qua kết cấu kẻ góc và hệ thống cột,
vì nóc lắp ghép vuông góc với toà tiền đình để tạo thành bộ khung gỗ của phần
chuôi vồ gian đình. Phần chuôi vồ lại được chia thành 2 gian qua bậc gỗ, cửa
con tiện và lối đi hai bên. Riêng phần cung trong được kết cấu qua 3 vì gỗ kiểu
giá chiêng.
Đình Lễ Hợp có quy mô kiến trúc vừa
phải nhưng phần trang trí nghệ thuật trên kiến trúc của đình vừa sinh động
phong phú về loại hình, dàn trải từ ngoài vào trong, qua những mảng trạm trên gỗ
các đề tài dân gian quen thuộc
- Gian
cung chuôi vồ
gồm hai phần, phần bên ngoài toà hậu cung để trơn không trang trí gì.
Hiện
vật, di vật còn lại
Hiện tại di tích đình Lễ Hợp lưu
giữ và bài trí một số lượng lớn các hiện vật, đồ thờ tự bằng gỗ sơn son thếp
vàng có niên đại rải rác từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20.
(i)
Nhang án
đặt chính giữa gian tiền đường bằng gỗ sơn thếp rực rỡ. Mặt ngoài chạm nổi, sơn
son thếp vàng các đề tài như Lưỡng long chầu nguyệt, phượng múa, long mã, hoa
lá mây cụm. Kích thước cao 1,46m, rộng 0,86m, dài 1,7m.
(ii)
Cuốn thư:
được tạo hình cuốn sách mở, hai bên cuốn tròn hình ống quển cắm đốc gươm, trong
lòng ghi bài thơ bằng chữ Hán, nổi trên nền hoa gấm. Phía trên chạm thủng lưỡng
long chầu nguyệt, hai bên chạm thủng hình phượng múa và phía dưới chạm hình đôi
nghê hí cầu.
(iii)
Đại tự:
hai chiếc, gỗ phẳng, sơn ta, chữ đề: “Thánh cung vạn tuế” và “Nguy nhược hữu
phù”.
(iv)
Long đình:
01 chiếc, phong cách nghệ thuật Nguyễn, cao 1,8m, rộng 68 cm, dài 1,02m, mặt cắt
ngang hình khối vuông.
(v)
Chấp kích, bát biểu:
3 bộ, nghệ thuật Nguyễn đầu thế kỷ 20.
(vi)
Rùa, hạc gỗ:
2 đôi, cao 1,8m, hạc có đôi chân cao đứng trên lưng rùa, rùa cổ rụt, đầu như cổ
ngóc cao.
(vii)
Tượng quan văn - quan võ: gồm 2 cặp, 4 pho trong tư thế chầu hầu, tương quan
văn mặc áo thụng màu lam, quan võ màu áo đỏ. Đỉnh đầu là búi tóc về hình bát
úp. Thiên quan là vành tròn hình khăn xếp đỉnh trán gắn nổi hoa cúc. Tượng có
nét mặt trái xoan. Quan văn cầm hốt, quan võ lộ đốc gươm.
(viii)
Câu đối kiểu lòng máng: 1 đôi, trang trí hoa dây, chạm nổi quanh diềm.
Chữ
đề:
Nhất tộc sùng từ cao bắc đẩu
Thiên
thu chính khí thọ Nam sơn.
(ix)
Long ngai - Bài vị: có
2 bộ, ngai lớn cao 1,05m, rộng 65 cm. Ngai nhỏ, giữa lòng khoảng cách 2 đầu rồng
đặt một bài vị cao 60cm, rộng 39cm, đề duệ hiệu vị thần được tôn thờ.
(x)
Chuông đồng:
2 quả, còn nguyên vẹn. Quả to cao 1,05m, đường kính đáy 50cm của chùa làng tên
Phúc Lâm tự, niên hiệu đúc năm Mậu tuất (1838) Minh Mạng. Quả chuông nhỏ đúc
năm Bảo Đại, Đinh sửu niên.
Sinh hoạt văn
hóa, lễ hội truyền thống
Đời sống tinh thần và sinh hoạt
văn hóa tâm linh của nhân dân làng Lễ Hợp, xã Tam Đa luôn gắn liền với các kỳ lễ
tiết quan trọng tổ chức tại đình làng nhằm tưởng nhớ công ơn sâu dày của Đức
Thành hoàng Phạm Đàm. Hằng năm, tại di tích diễn ra các ngày lễ chính theo lịch
âm như sau:
- Ngày Thánh đản: Ngày mồng 10
tháng 3 âm lịch (Kỷ niệm ngày sinh của Đức vị Thành hoàng).
- Ngày Thánh hóa: Ngày mồng 2
tháng Chạp âm lịch.
- Ngày Khánh hạ: Ngày mồng 4
tháng Giêng và ngày 12 tháng 8 âm lịch.
Ngày 12/12/1994, Bộ Văn hóa - Thông
tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành Quyết định số
3211/QĐ-BT, chính thức xếp hạng Đình Lễ Hợp là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp
Quốc gia.