ĐÌNH TRI YẾU
(Di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia)
Khái
quát về di tích
Đình
Tri Yếu thuộc thôn Thành Công, làng văn hóa Tri Yếu, xã Đặng Cương (nay là phường
An Dương, thành phố Hải Phòng). Đình Tri Yếu còn có tên là đình Đông, bởi trước
đây làng Tri Yếu có ba thôn: thôn Đông, thôn Đoài và thôn Trung Nghĩa, riêng
thôn Trung Nghĩa theo đạo Thiên chúa giáo, nên không có đình. Thôn Đông, Đoài đều
có các công trình tâm linh tín ngưỡng đình, chùa, miếu. Thôn Đông được coi là
thôn gốc, nên được giữ đình Đông. Trải qua thăng trầm của lịch sử đình, miếu của
thôn Đoài đã bị hủy hoại. Đình Đông, ngôi đình duy nhất còn lại của làng Tri Yếu
và trở thành tài sản chung của cộng đồng dân cư Tri Yếu.
Đình
Tri yếu nằm tại khu vực trung tâm của khu dân cư sầm uất và sát bên con đường
trục chính được rải nhựa khá rộng rãi của làng Tri Yếu.
Nhân vật được tôn thờ tại Đình Tri Yếu
Đình
Tri Yếu là công trình thờ 3 vị Thành hoàng là Chàng Rồng Đại Vương, Cao Sơn Đại
Vương và Quý Minh Đại Vương. Trong đó Đức thánh đệ tam là chàng Rồng Đại Vương
tương truyền là người địa phương.
Căn
cứ vào bản thần tích ba vị đại vương, đình Tri Yếu do Đông các đại học sĩ Nguyễn
Bính soạn dưới triều Lê Anh Tông, niên hiệu Hồng Phúc năm đầu (1572) và trạng
nguyên Nguyễn Hiền niên hiệu Vĩnh Hựu năm đầu (1735) hiện lưu giữ tại di tích
cho biết:
Tại
Động Lăng Xương, phủ Gia Hưng có gia đình họ Nguyễn, vốn dòng dõi hào trưởng
tên là Công Lĩnh, vợ là Cao Thị Nham. Vợ chồng ông Lĩnh hiền hậu, đức độ. Một
hôm ông Lĩnh lên núi Tam Đảo hái thuốc, đang buổi trưa hè oi bức, thấy một phiến
đá bằng phẳng lớn, sáng loáng, ông bèn ngả lưng trên bàn đá nghỉ trưa. Bất giác
ông ngủ đi lúc nào không biết. Trong giấc chiêm bao ông thấy hai vị thần tướng,
một vị đội mũ đầu hổ, mặc áo gấm mầu đỏ, cưỡi con ngựa hồng tự xưng là Cao Sơn
thần Vương. Một vị đội mũ thất bảo, mặc áo gấm mầu xanh biếc, cưỡi trên con bạch
mã, tự xưng là Quý Minh thần Vương. Hai vị từ trên trời bay xuống quỳ lạy trước
ông Lĩnh và nói rằng: “Anh em con là dòng dõi của 50 người con theo mẹ (Âu Cơ)
lên núi ngày xưa. Thượng đế sai cai quản một vùng núi, sông, làm thần chúa tể một
phương. Nay phạm vào điều lầm lỗi của thiên đình bị trích giáng xuống cõi trần
tìm nhà có đức đầu thai làm con. Ông là người làm nhiều điều phúc đức, Thượng đế
đã soi xét từ lâu, muốn giúp cho vận nước hưng thịnh, lập được công lớn ông chớ
nên từ chối”. Đương lúc bàng hoàng, sửng sốt, bỗng có tiếng sét lớn trên trời,
ông giật mình tỉnh giấc, mới mình chiêm bao.
Sau
thời gian đó ít lâu bà Cao Thị Nham có mang, đúng14 tháng, vào ngày 15 tháng 9
bà sinh ra được hai người con trai. Cả hai người khôi ngô, khác thường. Một người
trên trán nổi vết chàm đỏ hình cái ấn vuông, nên được tên là Cao Sơn. Người kia
tay dài quá đầu gối, trên mặt có bảy nốt ruồi, tiếng vang như chuông, hai vai
có những nốt ruồi xếp thành chữ “Hiển Minh” nên được đặt tên là Quý Minh. Lúc bấy
giờ có người anh bên bác là Nguyễn Tùng (tức Tản Viên), rất thương yêu hai người
nên đón về nuôi dạy. Trong khoảng mấy năm cửa nhà thanh bạch, ba anh em quý
nhau như anh em ruột. Ba người nhận nữ thần họ Ma, chuyên sinh sống bằng nghề
hái thuốc làm mẹ nuôi. Sau đức Tản Viên được Thái Bạch Tinh quân cho một cây gậy
trúc thần, lại được Long Vương tặng cho quyển sách ước, có khả năng giải nguy,
cứu khổ, cứu dân, giúp đời. Đức Thánh Tản Viên chia phong cho Cao Sơn và Quý
Minh là thần vai trái và thần vai phải đều theo địa phận núi mà cai quản. Người
trong đời gọi là ba vị thánh là Sơn thần xuất thế. Vua Hùng Duệ Vương không có
con nối dõi, có hai người con gái, Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử. Công chúa thứ hai
là Mỵ Nương chưa thành hôn, nên được vua Hùng tổ chức kén rể. Tản Viên cùng hai
em vào ứng tuyển, Tản Viên có tài hô phong, hoán vũ, nên được vua gả Mỵ Nương
cho.
Vua
Thục tên là Phán cũng muốn lấy công chúa Mỵ Nương nhưng không được, nên mang
lòng oán giận vua Hùng. Sau khi làm phò mã, Tản Viên tiến cử hai em, vua phong
cho Cao Sơn là Tả đô đài Đại phu, Quý Minh là Hữu đô đài Đại phu. Trong mấy năm
thiên hạ thái bình, hai ông đi kinh lý nhiều nơi để vỗ yên dân. Một hôm hai ông
về khu Đông Trang, Tri Yếu thấy có một người tên là Chàng Rồng, cha mẹ sinh ra
ông là Trần Lân và mẹ là Nguyễn Thị Miễu, hai ông bà làm nhiều việc thiện, như
xây cầu, đắp đường dựng miếu, sửa chùa, tô tượng, đúc chuông. Khi Cao Sơn, Quý
Minh tới địa phương, Chàng Rồng liền mang bè đảng đến hàng phục, quy thiện. Sau
khi Cao Sơn, Quý Minh hỏi gia cảnh ông bà Lân hiểu rõ mọi chuyện, cho rằng người
này 500 năm trước là đồng khí nhất nguyên, liền kết nạp và cho Chàng Rồng làm
phó tướng. Hai ông dừng lại ở Tri Yếu 10 ngày, các cụ phụ lão trong trang ấp đến
xin làm thần tử, các địa phương khác cúng kéo đến xin thần phục.
Năm
Thục Phán đem quân đánh nước Văn Lang; Quân Thục Phán huy động binh hùng, tướng
mạnh, chia làm 5 đạo tiến công vào Văn Lang. Tin cấp báo về triều, vua Hùng rất
lo lắng, liền truyền cho Thánh Tản Viên cùng các quan tướng hội triều bàn kế chống
Thục Phán. Nhà vua phong cho Tản Viên làm Tiết chế thống lĩnh quân thủy bộ để
đánh Thục Phán. Phong cho Cao Sơn làm Dũng lược Đại tướng quân, phong Quý Minh
là Hùng uy Đại tướng quân. Đức Thánh Tản Viên phong cho Hoàng Triều, Hoàng Bá
làm Nhang úy, Chàng Rồng làm Phó đồng nhung thủy đạo dưới quyền chỉ huy của Cao
Sơn. Chàng Rồng về quê hương Tri Yếu tuyển chọn được 100 người lập thành một đồn
trại chốt giữ ở đầu làng để phòng vệ Thục Phán. Xây dựng xong hệ thống phòng thủ
ở quê nhà Chàng Rồng kéo quân về hợp cùng lực lượng của Cao Sơn chống quân Thục
Phán trên biển. Chàng Rồng hiến kế với Cao Sơn mang theo 20 chiến thuyền nhẹ bí
mật, bất ngờ đánh phá thẳng sâu vào trung tâm quân Thục Phán, lập công dâng trước
cờ Đại tướng. Cao Sơn vui mừng đồng ý, Chàng Rồng lập tức xuất phát tiến công
chém được nhiều tướng Thục Phán, nhân thời cơ tốt Cao Sơn đốc suất toàn quân
đánh vào đội quân giặc. Khí thế quân Văn Lang như vũ bão, quân Thục Phán thua
to, tướng Thục Phán là Cao Lỗ nhảy xuống thuyền con trốn thoát. Quân ta đại thắng,
tướng, binh Thục phải rút về nước. Vua Hùng mở tiệc khao thưởng tướng sĩ có
công trong trận mạc. Vua phong cho Cao Sơn làm Trưởng quốc tiết chế, Quý Minh Tả
Tướng quốc tiết chế và được phong tước Vương. Chàng Rồng được phong là Bình
Nhung Hầu. Trang Tri Yếu được phong là đất Hộ nhi, được miễn trừ tô, thuế, phu
dịch. Chàng Rồng bỏ tiền mua thêm ruộng đất, ao vườn chia đều cho dân, lại dạy
dân trồng cấy ngũ cốc, chăn tằm, dệt lụa.
Hùng
Duệ Vương đã 105 tuổi, nhưng không có con nối dõi, nên muốn nhường ngôi cho Tản
Viên, nhưng Tản Viên từ chối không nhận. Vua Hùng muốn mời Thục Phán đến nhường
ngôi, nhiều quan trong triều không nghe theo. Vua Thục lợi dụng triều chính vua
Hùng Như vậy và sợ vua Hùng giả vờ nên đã mang quân đánh úp. Cơ nghiệp nhà Hùng
đến đây kết thúc, Thục Phán lên thay. Các quan bỏ về quê hương bản quán, Cao
Sơn, Quý Minh về sống ẩn cư trên núi Tam Đảo- Ba Vì. Cao Sơn hóa ngày 10 tháng
2, Quý Minh hóa ngày 6 tháng 12.
Chàng
Rồng từ khi vua Hùng mất nước, ông trở về làng Tri Yếu ở gò đất Đông, ông thường
hay khuyến khích người dân lo việc cấy lúa, trồng ngũ cốc, chăn tằm dệt lụa, giúp
đỡ người nghèo khó. Khi nghe tin hai chủ tướng qua đời, ông liền triệu tập dân
binh được vài trăm người, ông nói: “Ta được hạt gạo đều nhờ ơn vua Hùng ban
cho, nay nhà Thục diệt vua Hùng, ta quay lại thờ Thục thì ra bất trung, tất bị
đời sau chê cười, chi bằng mang quân đánh úp nhà Thục, nếu có mệnh hệ gì, lúc
xuống suối vàng không hổ thẹn khi gặp các thánh chúa họ Hùng”. Chàng Rồng bèn
mang quân vây thành Cổ Loa mấy lần, nhưng đều không phá nổi. Một hôm ông ngầm lẻn
vào trong nội cung lấy được quả ấn vàng và áo long cổn của vua Hùng mang về Tri
Yếu. Vua Thục dò biết bèn sai tướng Cao Lỗ đem 3 vạn quân đuổi theo Chàng Rồng
về tận nơi, đến xứ Đồng Đầm, hai bên gặp nhau, một trận chiến ác liệt xảy ra.
Chàng Rồng tả xung, hữu đột chém được hàng chục tướng Thục, nhưng do chênh lệch
lực lượng quá lớn, ông bị quân Thục vây chặt tứ phía. Trong khi tìm đường phá
vòng vây không may ông bị ngã xuống ruộng lầy và bị cây đâm vào người và ông đã
hóa, đó là ngày 8 tháng 2. Nhân dân thương tiếc lập miếu thờ ông tại nơi ông hy
sinh, đề hiệu Chàng Rồng Đại Vương. Ngôi miếu thờ ông người dân gọi tên là miếu
Kiến
Đến
thời nhà Đường đô hộ nước ta, Đại tướng Cao Biền đi hành quân qua thấy ông linh
ứng, đã khen phong tặng sắc “Chàng Rồng Đại Vương linh ứng, Hiển hựu thiên ứng”,
ban cho dân địa phương 100 quan tiền để trùng tu đền thờ ông. Vài chục năm sau
các phụ lão trong làng chiêm bao thấy vị Thành hoàng nói: “Nay có hai vị Cao
Sơn và Quý Minh khi còn sống đã có công với nước nhà, Thượng đế phong làm Phúc
thần làng này, mọi người nên dựng miếu phụng thờ. Nếu thờ với ta thì đặt bài vị
thần hiệu của hai Ngài bên phải của ta để phụng thờ, làm được như vậy sẽ được
hưởng phúc sâu, rộng”. Sáng hôm sau dân làng bàn nhau và cử một đoàn sang làng
Điều Thượng rước bài vị thần hiệu của Ngài Quý Minh Đại Vương. Một đoàn sang Điều
Hạ rước bài vị thần hiệu của Ngài Cao Sơn Đại Vương. Dựng miếu ở nơi ngày xưa
các Ngài đóng đồn quân để bốn mùa hương khói.
Niên
đại và cấu trúc của công trình
Theo
các vị cao niên trong làng, đình Tri Yếu được khởi tạo vào thời Hậu Lê Thế kỷ
XVII, đình nằm trên gò đất phía Nam của làng. Theo các nhà phong thủy đình tọa
lạc trên gò đất hình con rùa, đình nằm trên đầu rùa. Thời Nguyễn đình tu sửa
nhiều lần, lần trùng tu cuối cùng, trên ngói màn của đình ghi niên đại tuyệt đối
vào năm 1894 (Giáp Ngọ niên). Đình Tri Yếu trước đây làm bằng vật liệu truyền
thống, có kiến trúc mặt bằng tiền nhất, hậu đình, tòa đại bái 5 gian, 2 dĩ, tòa
chữ đinh, trung đường 3 gian, hậu cung cũng là cung cấm ba gian. Năm 1968, do
điều kiện, hoàn cảnh lịch sử lúc đó, nên đình Tri Yếu bị dỡ bỏ chỉ còn lại phần
hậu cung để lấy vật liệu làm một số công trình của địa phương. Năm 1983, trên
cơ sở hậu cung, nhân dân địa phương dựng thêm phần tiền tế đình 5 gian. Năm
2021 được nhà tài trợ công trợ giúp kinh phí lớn, nên đình Tri Yếu được làm lại
với quy mô kiến trúc to lớn.
Đình
Tri Yếu làm bằng vật liệu mới, bê tông cốt sắt, mặt bằng kiến trúc chữ đinh, gồm
7 gian đại bái, ba gian hậu cung, trong đó có một gian cung cấm, mái chồng diêm
nóc các, chéo đao tầu góc ở cả hai tòa đại bái và hậu cung. Mái lợp ngói mũi
truyền thống, trên mái đình, đắp trang trí các đề tài truyền thống, đỉnh giữa bờ
nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt, khúc nguỷnh đắp con sò, góc đao cong đắp tổ hợp
rồng chầu, phượng múa. Tòa đại bái 7 gian, 5 gian chính và hai gian dĩ. Hiên
tòa đại bái làm kiểu bát vần chạy xung quanh và có hệ thống lan can bằng đá.
Lan can được tạo thành những mảng đá trang trí kết hợp với trụ đá. Trên các mảng
đá lan can, khắc nổi hình tròn chữ thọ cách điệu ở giữa, bốn góc là hoa dây hóa
phúc chầu vào chữ thọ. Hệ thống khung chịu lực của tòa đại bái gồm 6 bộ vì
chính, vì bốn hàng chân cột, câu đầu kép để thành hệ mái chồng diêm. Vì nóc cấu
trúc chồng rường con nhị, vì nách thuận chồng ba con. Trên các cấu kiện của bộ
vì đều được đắp điểm xuyết lá guột mềm mại, đấu kê thót đáy đắp nổi hoa sen
cách điệu. Các đầu dư được đắp nổi đầu rồng, miệng rồng ngậm ngọc, mắt lồi,
chân có móng vuốt, tóc râu dài bay ngược về phía sau.
Tòa
hậu cung có ba gian cấu trúc nối liền với tòa đại bái về phía sau, trong đó có
một gian cung cấm. Khung chịu lực của tòa hậu cung gồm ba bộ vì, vì bốn hàng
chân cột. Cấu tạo các bộ vì tương tự như tòa đại bái. Cung cấm ngăn cách với
bên ngoài bằng hệ thống cửa bằng gỗ tốt, gồm cửa chính và hai cửa nách. Cửa
đóng theo cửa cổ, cửa thùng khung khách, có ngưỡng khá cao. Cửa chính lớn chỉ mở
vào những dịp tiết lễ của làng, cửa nách nhỏ chỉ đủ một người vào. Toàn bộ cổ
diêm xung quanh đình đều đặt hàng song con tiện bằng gỗ lắp theo chiều dọc và
phía ngoài cổ diêm được chắn lớp kính để chống bụi.
Hiện
vật, di vật còn lại
Đình
Tri Yếu trải thời gian thăng trầm của lịch sử, nhưng hiện nay vẫn còn bảo tồn
được một số cổ vật có giá trị về lịch sử mỹ thuật sau đây:
-
Kiệu bát cống một bộ, có đủ cả phần hậu bành ở trên thanh rồng, kiệu thuộc loại
kiệu trung, kiệu làm bằng gỗ vàng tâm, nên rất nhẹ để thuận lợi khi khiêng trên
vai trong những dịp lễ rước thánh. Kiệu được sơn son, thếp bạc, phủ hoàn kim,
có niên đại tạo tác cuối thế kỷ XIX.
-
Long đình làm bằng gỗ vàng tâm, nên cũng nhẹ nhàng khiêng trong khi tham gia lễ
rước thánh. Long đình gồm ba chiếc được xác định có niên đại tạo tác cuối thế kỷ
XIX.
-
Nhang án, làm bàng gỗ tốt, kiểu nhang án ô sa, có chân vuông thẳng, quây ba mặt
chân. Trên phần quây chân chạm hổ phù hàm thọ, chân triện rút. Nhang án sơn
son, thếp bạc, phủ hoàn kim được xác định tạo tác vào Thế kỷ XVIII.
-
Khám thờ, long ngai, bài vị, một bộ thờ hoàn chỉnh được làm bằng gỗ quý. Khám
được xác định có niên đại tạo tác cuối Thế kỷ XIX.
-
Bia bằng đá xanh nguyên khối, bia được dựng năm Duy Tân thứ 10 (1916).
-
Sắc phong: Đình Tri Yếu còn gìn giữ được khá nhiều sắc phong của triều Nguyễn
cho các vị Thành hoàng.
Sinh
hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Đình
Tri Yếu trước đây hàng năm tính theo âm lịch, thường diễn ra nhiều tiết lệ,
nhưng vào dịp ngày 8 tháng 2 là ngày hội lớn nhất trong năm. Hội lễ diễn ra từ
ngày mồng 7, đến ngày 11, sau lễ nhập tịch dân làng rước bát hương từ miếu Kiến
về đóng đám. Trong lễ hội, lễ rước thánh rất long trong, đông vui, các nghi trượng,
nghi vệ, tàn lọng, cờ quạt rước thánh đi rất khí thế. Dân làng tổ chức cúng lễ ở
miếu rồi rước bát hương thánh về đình mở hội. Ngoài dịp lễ hội làng nêu trên,
trong năm người dân còn tổ chức các tiết lễ như: ngày 5 tháng 4, ngày sinh Đức
Chàng Rồng; ngày mồng 6 tháng Chạp ngày thánh hóa; ngày 15 tháng 8, lễ cúng cơm
mới; tối ngày 14 và 30 hàng tháng, lễ sóc, vọng.
Đình Tri Yếu được xếp
hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 2307/QĐ của Bộ Văn
hóa, Thông tin và Thể thao ngày 30/12/1991. Các giá trị vật thể và phi vật thể
của di tích không chỉ thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" mà
còn góp phần giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào về lịch sử và bản sắc văn hóa
dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.