Hệ thống Cơ sở dữ liệu điện tử - Lịch sử Đảng bộ Thành Phố Hải Phòng 

ĐÌNH BẮC (ĐÌNH THANH LÃNG)

A- A+

ĐÌNH BẮC (ĐÌNH THANH LÃNG)

(Di tích Kiến trúc cấp quốc gia)

-----

Khái quát về di tích

Di tích tọa lạc tại thôn Thanh Lãng, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (từ ngày 01/7/2025 là tổ dân phố Quảng Thanh 3, phường Lê Ích Mộc, thành phố Hải Phòng). Ngôi đình được dựng sát chân núi, lưng dựa vào vách núi, phía trước là cánh đồng, tạo thế “Gối sơn đạp thủy” lý tưởng theo phong thủy. Từ Trung tâm Chính trị - Hành chính thành phố theo tỉnh lộ 352 đến khu vực sân vận động phường Lê Ích Mộc, rẽ phải vào đường thôn khoảng 800m là tới di tích.

Nhân vật được tôn thờ tại Đình Bắc

Đình Bắc thờ hai vị Đương cảnh Thành hoàng là anh em sinh đôi có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước: Vũ Hồng, được phong là Chính khấu Đại tướng quân, Đại nguyên súy; Vũ Thị Lê Hoa, em gái Vũ Hồng, được phong là Tiền bộ Tiền phong, Đại vương Ưu bà di. Hai vị là con của ông Vũ Minh và bà Đỗ Thị Hòa, sinh ngày mùng 2 tháng 4 năm Giáp Ngọ dưới triều vua Hùng Vương thứ 6. Khi giặc Ân xâm lược, hai anh em đã lên kinh đầu quân và được vua giao quản đốc 36 đồn khu vực Kinh Môn. Hai vị đã anh dũng hy sinh trong một trận quyết chiến trên sông nước quê hương.

Niên đại và cấu trúc của công trình

Đình Bắc là một công trình kiến trúc nghệ thuật không lớn lắm. Đình quay hướng chính Nam, hướng được coi là “Đắc địa” theo quan niệm truyền thống của người Việt: “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”. Toàn bộ kiến trúc được bố cục theo kiểu chữ đinh (J) đơn giản, gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Đình được dựng sát dưới chân núi, lưng dựa vào vách núi tạo dáng vững chắc, bề thế phía trước là cánh đồng lúa bát ngát, lấp ló một vài ngôi nhà mới xây mái ngói đỏ tươi, tre xanh tỏa bóng. Trong lần tu sửa năm Quý Hợi (1923) niên hiệu Khải Định bát niên, người ta đã dỡ bỏ mất phần mái hồi đao cong và bờ nóc đắp rồng chầu mặt nguyệt mà thay vào đó là tường hồi vách đứng. Đình là một di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị cao về nghệ thuật trang trí, là tài liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử mỹ thuật cổ dân tộc, với kiến trúc bao gồm:

(1). Toà tiền đường (Hay còn gọi là đình Ngoài): Mái lợp ngói mũi hài, so với kiến trúc truyền thống, mái Đình ngắn và dốc, tạo cho nó có dáng vẻ cao, thanh thoát. Từ sân lên nền đình là hệ thống bậc đá giật ba cấp rộng, mỗi cấp cao 30 cm. Mặt trước ba gian giữa là hệ thống cửa bức bàn, trên “trấn song” đón ánh sáng từ ngoài vào. Phần còn lại của kiến trúc xây tường gạch bao quanh, tạo cho đình thêm vẻ huyền bí của chốn linh thiêng.

Bộ mái toà tiền đường, mỗi bên gồm 9 khoảng “hoành” đứng vững trên 6 bộ vì kèo gỗ lim cao to vừa phải, nhưng do kỹ thuật xây dựng tạo cho kiến trúc có dáng vẻ cao ráo. Hệ thống tường gạch trước sau và hồi đốc chỉ có tác dụng che kín cho ngôi nhà chứ không mang tư cách chịu lực như một số di tích khác. Các bộ vì có cấu trúc tương tự nhau kiểu chồng rường giá chiêng. Đôi “thượng lương” (xà nóc) là dốc gỗ hình thang ngửa, mặt ngoài khắc chìm chữ “thọ” kê trên “đầu hoa sen”, “đầu hoa sen” đứng vững trên lưng “rường bụng lợn” chạm khắc hai bên hình hoa lá cách điệu. Hai đầu “rường bụng lợn” phía trên đội đôi “hoành” thứ nhất, phía dưới tỳ lên hai “cột trốn” lao lên từ lưng “câu đầu” tạo thành khung giá chiêng. “Cột trốn” hình trụ tròn cao 50cm, hai đầu là các đầu hoa sen được tỉa tót công phu. Từ thân “cột trốn” lao ra một “rường” ngắn chạm khắc hoa lá đội đôi “hoành” thứ hai. Thanh “rường” này đè lên “rường” ngắn phía dưới nằm trên lưng “câu đầu” đỡ đôi “hoành” thứ ba. “Câu đầu” là thân gỗ lớn bào soi hình vỏ măng, hai bên khắc nổi hình hoa lá và hoa văn chữ triệu. Câu đầu đội đôi “hoành” thứ tư, dưới bụng “câu đầu” nơi tiếp giáp với cột cái gắn “đầu dư” hình rồng. “Đầu dư” chui qua thân “cột cái”, đuôi kéo dài đỡ đôi “hoành” thứ 5. Và dưới là ván gỗ dày “cốn” được khoét lõm đỡ đôi “hoành” thứ sáu và thứ bảy. Dưới “cốn” là “xà nách” (nối “cột cái” với “cột quân”) đội đôi “hoành” thứ tám. Đôi “hoành” thứ 9 yên vị trên “bẩy hiên”. Riêng hai bộ vì đốc có khác đôi chút là: Trong khung hình giá chiêng bưng ván gỗ dày có trang trí, không có đầu dư hình rồng. Khu vực “cốn” ván gỗ được thay thế bằng hệ thống ba đầu kiểu “chồng rường”. Các bộ vì được liên kết với nhau nhờ hệ thống xà thượng (nối “cột cái” với “cột cái”) và xà hạ (nối “cột quân” với “cột quân”) to khỏe bào soi hình vỏ măng. Hệ thống cột được đứng vững trên các chân tảng đá xanh xám tròn trên vuông dưới.

(2)- Hậu cung hay còn gọi là đình Trong: Hậu cung Đình Bắc gồm ba gian chuôi vồ nối từ phía sau gian giữa tòa đại đình. Từ hai “cột cái” tòa đại đình người ta dựng “vì” gỗ nằm trên mái ngói. Một đầu của “thượng lương”, “hoành” tòa hậu cung gối lên vì này, đầu kia gác lên vì đốc và tường hồi phía sau. Đặc biệt hai “cột quân” gian giữa phía sau tòa đại đình được làm cao bằng “cột cái”, mặc dù nó vẫn đảm nhận chức năng là “cột quân” của tòa đại đình nhưng lại mang tư cách là “cột cái” của tòa hậu cung. Từ đây bộ vì thứ nhất của tòa hậu cung được chính thức xác lập. Hậu cung gồm 4 bộ vì kèo gỗ lim và một tường hồi phía sau. Mỗi bộ vì gồm 4 hàng cột như ở tòa đại đình gồm hai cột cái và hai cột quân nhưng chỉ khác nhau là kích thước nhỏ bé hơn mà thôi. Trong 4 bộ vì có 3 bộ cấu tạo tương tự nhau. Trên lưng “câu đầu” dựng ván gỗ hình tam cân, khoét lỗ đỡ các hoành mái và đôi “thượng lương”. Chính giữa “vì kèo ván gỗ” khoét thủng hình khung “giá chiêng”. “Cốn” cũng được bưng kín bằng gỗ dày như “cốn” ở tòa đại đình. Riêng bộ vì thứ hai (tính từ ngoài vào) làm theo kiểu chồng rường giá chiêng như hồi đốc tòa đại đình. Chắc chắn khởi thủy cả bốn bộ vì đều được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng” trong lần tu sửa năm Quý Hợi (1923) đã làm lại như ngày nay.

Đình Bắc gắn liền với cuộc kháng chiến chống giặc Ân và sự hy sinh anh dũng của hai vị tướng họ Vũ. Trước Cách mạng tháng Tám, Đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng làng Thanh Lãng, nơi hội tụ sức mạnh và niềm tự hào của Nhân dân địa phương.

Hiện vật và di vật còn lại

Trong quá trình tồn tại và phát triển di tích đã trải qua bao bước thăng trầm, từ một ngôi đình cổ kính thành trường học, nhà kho cho nên những di vật có giá trị văn hóa nghệ thuật bị mất mát hầu hết. Hiện tại chỉ còn lại một vài di vật đáng quan tâm sau:

(1). Tượng Vũ Hồng: Trong tòa hậu cung hiện có hai pho tượng Vũ Hồng, một của đình Bắc, một của đình Đông rước về. Hai pho được đặt trên ban thờ cao phía trong, dáng dấp giống nhau. Tượng thể hiện trong tư thế ngồi thiết triều trên long ngai. Tượng cao 1,1m. Đầu đội mũ chữ đinh, nền đơn, mặt phương phi, hai mắt mở to, sống mũi thẳng, cánh mũi nở. Cằm tròn với cái miệng khép lại tai to, cổ cao trông cương nghị, thân tượng thon, nở ngang cân đối, có dáng dấp một võ tướng. Tượng mặc áo giáp trụ nhiều lớp áo gấp nếp. Viền cổ áo đắp nổi 6 bông cúc mãn khai. Giáp trụ phủ kín hình rồng phượng và hổ phù, chân đi hài mũi cong. Căn cứ vào hình rồng, hoa cúc trang trí trên áo và kỹ thuật tạo tượng cho biết niên đại của tượng vào giữa thế kỷ 19.

(2). Tượng Vũ Thị Lê Hoa: Gồm hai pho tượng đặt trên ban thờ ở vị trí thấp hơn tượng Vũ Hồng. Tượng có khuôn mặt nữ nhỏ nhắn, ngồi trên ngai rồng trong thế thiết triều. Đầu đội mũ “Quận chúa” điểm xuyết vài bông cúc mãn khai. Đỉnh đầu là búi tóc bồ bồ kiểu tóc tượng quan âm mặt nhỏ mũi thẳng. Tay to, dáng dày như tai phật. Tượng mặc áo thụng dài. Phần ngực hở lộ rõ lớp yếm đào bên trong, nền áo phủ kín hoa văn chữ triệu, hình kỷ hà, cỏ linh chi (thứ cỏ dùng luyện thuốc trường sinh) và một vài bông cúc mãn khai. Dải mũ chảy xuống quá vai. Chân đi hài tạo hình chim phượng xòe cánh, niên đại tượng giữa thế kỷ 19.

(3). Sập gỗ: Kích thước 1,6m x 1,6m làm theo kiểu “chân quỳ dạ cá” nghệ thuật trang trí cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

(4). Bát bửu: Mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 19.

(5). Sắc phong: Lưu giữ 2 đạo sắc phong của vua Duy Tân năm thứ 3 (11-8-1909) và Khải Định năm thứ 9 (25-7-1925).

(6). Nghệ thuật chạm khắc: Các bức chạm nổi đề tài phượng múa, rồng chầu, long mã và đặc biệt là hình ảnh “nghê gảy đàn tỳ bà” rất sinh động tại tòa Tiền đường.

Sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống

Hội to nhất của làng Thanh Lãng còn gọi là “Đại hội” kéo dài từ ngày mồng 6 đến ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm. Trước đây Thanh Lãng có ba đình, được tổ chức lễ hội luân phiên nhau mỗi năm tổ chức một đình, tổ chức lễ hội ở đình nào thì giáp ấy có trách nhiệm lo về lễ nghi và vật chất. Cũng trong ngày mùng 7/3 các chàng rể của làng về làm lễ yết bái thành hoàng. Sáng mùng 8/3 tổ chức lễ rước Quan trạng Lê ích Mộc từ đền Diên Phúc thọ về Đình làm lễ yên vị rồi nhập hội. Ngày mồng 9 và mồng 10 là ngày hội chính. Buổi sáng tiếp khách thập phương tới lễ, buổi trưa tiến hành lục cúng gồm có: lợn “ông bồ”, hương, hoa, đăng, trà, quả.

Ngoài ngày lễ chính, hàng năm vào ngày mùng 2 tháng chạp là ngày giỗ đức thánh dân làng cũng tổ chức dâng lễ.

Trong ngày hội ngoài việc thờ thánh, cũng quan trọng rất trang nghiêm ở trong đình, trên sân đình còn tổ chức nhiều trò chơi vui như: Đánh vật, đấu cờ, chọi gà... Mọi sinh lực của làng xóm được dồn cho ngày hội, mọi người đều vui vẻ, những hiềm khích của đời thường được rũ bỏ. Ai nấy đều hồ hởi tham gia việc chung của làng mình, tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng quên đi những cực nhọc của bao tháng ngày lao động một nắng hai sương.

Ngày 18/01/1993, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao ra quyết định số 57/VH-QĐ công nhận Đình Bắc (Thanh Lãng) là Di tích Kiến trúc cấp quốc gia.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
ĐÌNH ĐỒNG LÝ
Đình Đồng Lý thuộc xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đình là một trong những đài tưởng niệm quý giá – một biểu tượng đạo lý “Uống...
CHÙA CÂU TỬ NỘI – CHÙA CÂU TỬ NGOẠI
Chùa Câu Tử Nội và chùa Câu Tử Ngoại thuộc xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
ĐỀN QUẢNG CƯ
Đền Quảng Cư thuộc xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đây là một trong những di tích tưởng niệm về Trạng nguyên Lê Ích Mộc – vị...
MIẾU PHƯƠNG MỸ
Miếu Phương Mỹ (tên chữ là Ngọc Hoa tự) thuộc xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đây là một công trình tưởng niệm, ghi dấu chiến...
Gửi bình luận của bạn

Chưa có bình luận nào về bài viết này

TIN XEM NHIỀU
Thống kê truy cập
  • Đang online: 13
  • Hôm nay: 1585
  • Trong tuần: 3.750
  • Trong tháng: 4.289
  • Tất cả: 2.303.948
HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hải Phòng
Địa chỉ: Tòa A, đường Đỗ Mười, Trung tâm Chính trị - Hành chính Bắc Sông Cấm, Phường Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng.
Điện thoại cơ quan: 080.31163

Thư ký Ban Biên tập: 0947.08.1586