ĐỀN AN TRÀNG
(Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia)
Khái
quát về di tích
Đền
An Tràng tọa lạc tại thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng (nay
thuộc xã An Lão, thành phố Hải Phòng). Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, Đền An
Tràng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc mà còn là
biểu tượng cho truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và đạo lý “uống nước
nhớ nguồn” của nhân dân địa phương.
Đền
An Tràng hiện nằm trên khu đất cao, nằm gần Quốc lộ 10, thuận tiện cho việc đi
lại và tham quan của nhân dân cũng như du khách thập phương. Di tích quay hướng
Đông Bắc, phía trước có khoảng sân rộng tạo không gian thoáng đãng và tôn
nghiêm.
Nhân vật được tôn thờ
Di
tích là nơi tôn thờ Vương Công Hiển - một vị tướng có công trong cuộc khởi
nghĩa Lý Bí chống ách đô hộ của nhà Lương ở thế kỷ VI, cùng phu nhân Vũ Thị Quý
Minh và Quỳnh Phương công chúa.
Trong
quá trình phát triển của làng xã, từ một ấp An Tràng ban đầu đã hình thành các
thôn An Tràng và Văn Tràng. Dù có sự thay đổi về địa giới hành chính, Nhân dân
địa phương vẫn duy trì việc thờ phụng chung một vị thành hoàng là Vương Công Hiển
cùng phu nhân Vũ Thị Minh Quy và Quỳnh Phương công chúa, thể hiện sự gắn kết cộng
đồng và lòng tôn kính đối với người có công với quê hương, đất nước.
Theo
thần tích lưu giữ tại di tích, Vương Công Hiển sinh ra tại An Tràng trong một
gia đình có truyền thống yêu nước. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, có chí lớn
và được nhân dân yêu mến. Khi trưởng thành, ông kết duyên cùng Vũ Thị Qúy Minh -
người phụ nữ đức hạnh, tài sắc vẹn toàn của địa phương.
Đầu
thế kỷ VI, dưới ách thống trị hà khắc của nhà Lương, Nhân dân Giao Châu phải chịu
nhiều áp bức, bóc lột nặng nề. Trước tình cảnh đó, năm 542, Lý Bí phát động cuộc
khởi nghĩa chống quân Lương. Hưởng ứng lời hiệu triệu cứu nước, Vương Công Hiển
đã chiêu mộ nghĩa sĩ, tích trữ lương thảo và đem quân tham gia khởi nghĩa. Trong
quá trình chiến đấu, ông nhiều lần lập công lớn, được Lý Bí hết sức tin tưởng
và giao giữ những vị trí quan trọng. Các nguồn thần tích cho biết ông từng giữ
chức Chiêu Thảo Úy, sau được phong Thiếu Úy trong triều đình Vạn Xuân. Ông đã
cùng nhiều tướng lĩnh khác tham gia chống lại các cuộc phản công quy mô lớn của
quân Lương, góp phần bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước Vạn Xuân. Năm 546, trong
cuộc chiến đấu chống quân xâm lược do Trần Bá Tiên chỉ huy, Vương Công Hiển đã
anh dũng hy sinh. Sự hy sinh của ông khiến Lý Nam Đế vô cùng thương tiếc. Nhà
vua đã xuống chiếu cho Nhân dân An Tràng lập đền thờ để tưởng nhớ vị tướng
trung dũng đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cứu nước.
Không
chỉ Vương Công Hiển, gia đình ông cũng để lại tấm gương sáng về lòng trung
nghĩa. Sau khi cuộc kháng chiến gặp khó khăn, phu nhân Vũ Thị Quy Minh cùng Quỳnh
Phương công chúa đã chọn cái chết để giữ trọn khí tiết trước sự truy bức của
quân xâm lược. Cảm phục trước nghĩa khí ấy, Nhân dân địa phương đã lập đền thờ
phụng và tôn kính các bà như những vị thần bảo hộ cho quê hương. Trải qua các
triều đại phong kiến, Vương Công Hiển, Vũ Thị Quý Minh và Quỳnh Phương công chúa
đều được ban nhiều sắc phong mỹ tự, khẳng định vị thế và công lao của các nhân
vật được thờ phụng tại di tích.
Niên
đại và cấu trúc của công trình
Từ
ngoài vào trong, công trình gồm các hạng mục chính như cổng đền, sân tế, bình
phong và khu kiến trúc thờ tự. Cổng đền được xây theo kiểu truyền thống hai tầng
mái, trên đắp nổi ba chữ Hán “An Tràng Linh Từ”, thể hiện tính chất linh thiêng
của di tích. Phía trước sân đền là bức bình phong kiểu cuốn thư, trang trí hoa
văn mang ý nghĩa trấn giữ, bảo vệ không gian tâm linh của công trình.
Tổng
thể kiến trúc đền hiện nay có mặt bằng dạng chữ “Tam”, gồm tiền đường và hai
tòa hậu cung nối tiếp nhau. Tiền đường gồm năm gian xây theo kiểu truyền thống,
kết cấu vì kèo gỗ kết hợp vật liệu gia cố hiện đại. Các bộ vì được làm theo kiểu
kẻ suốt, bảo đảm sự vững chắc cho toàn bộ công trình. Không gian tiền đường là
nơi diễn ra các nghi lễ tế tự và sinh hoạt tín ngưỡng của Nhân dân địa phương.
Tiếp
nối với tiền đường là khu hậu cung gồm hai lớp kiến trúc, được bố trí theo trục
thần đạo. Hệ thống cửa gỗ, khám thờ, hương án cùng các đồ thờ tự được sắp đặt
trang nghiêm, tạo nên không gian linh thiêng, tĩnh mịch. Nội thất hậu cung
tương đối khép kín, ánh sáng tự nhiên hạn chế nhằm tăng thêm vẻ uy nghiêm cho
nơi thờ tự.
Mặc
dù đã trải qua nhiều lần trùng tu, song ngôi đền vẫn bảo lưu được cơ bản hình
thức kiến trúc truyền thống của một công trình tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng
Bắc Bộ. Các chi tiết trang trí không quá cầu kỳ nhưng hài hòa, tập trung chủ yếu
ở cửa võng, đầu bẩy, khám thờ và các bộ phận kiến trúc quan trọng. Mái đền lợp
ngói vảy truyền thống, tạo nên vẻ cổ kính, gần gũi với cảnh quan làng quê.
Hiện
vật, di vật còn lại
Trải
qua nhiều biến động của lịch sử, Đền An Tràng hiện vẫn còn lưu giữ được nhiều
di vật có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Đây là những minh chứng sinh
động cho quá trình tồn tại lâu dài của di tích cũng như tín ngưỡng thờ Vương
Công Hiển và gia đình ông trong đời sống cộng đồng.
Nổi
bật trong số đó là hệ thống đồ thờ tự truyền thống gồm hương án, long ngai, bài
vị, bát hương, khám thờ và các đồ tế khí phục vụ nghi lễ. Các hiện vật chủ yếu
được chế tác bằng gỗ, sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn
và đầu thế kỷ XX.
- Nhang
án gỗ: 02 chiếc được chạm khắc công phu với các đề tài rồng, phượng, hoa lá
cách điệu, thể hiện trình độ mỹ thuật và kỹ thuật điêu khắc dân gian khá cao.
Các họa tiết được bố cục cân đối, mang ý nghĩa cầu phúc, cầu thịnh vượng và thể
hiện quan niệm thẩm mỹ truyền thống của người Việt.
- Bát hương đồng: 03 chiếc đặt tại ba vị trí
khác nhau trong di tích
-
Long đình: 02 chiếc, đều mang phong ách nghệ thuật thời Nguyễn, có cỗ long đình
phía hữu gian tiền đường: Cao 2,8m, rộng 1,13m, mặt cắt ngang hình vuông.
-
Long ngai bài vị: 02 chiếc trên bề mặt của ngai rồng, đặt bài vị, đề chữ Hán -
Duệ hiệu của ông bà Vương Công Hiển - Quý Minh phu nhân.
-
Đôi lộc bình: 1 chiếc cao 60cm, có đường kính miệng = 27, thân bình nơi to nhất
76cm, đáy 48cm, chất liệu gốm men Trung hoa. Chiếc còn lại có đường kính 22cm
- Một
trong những nguồn tư liệu quý giá nhất của di tích là hệ thống sắc phong thần
còn được lưu giữ qua nhiều triều đại. Các đạo sắc phong từ thời Tự Đức, Thành
Thái, Duy Tân đến Khải Định không chỉ xác nhận vị thế của các vị thần trong đời
sống tín ngưỡng dân gian mà còn là tư liệu lịch sử có giá trị phục vụ nghiên cứu
lịch sử, văn hóa và hành chính địa phương qua các thời kỳ.
Bên
cạnh đó, thần tích, ngọc phả và các tài liệu Hán Nôm liên quan đến Vương Công
Hiển cũng là nguồn sử liệu quan trọng giúp tìm hiểu quá trình hình thành, phát
triển của di tích cũng như truyền thống yêu nước của cư dân An Tràng. Những tài
liệu này góp phần làm sáng tỏ vai trò của Vương Công Hiển trong cuộc khởi nghĩa
Lý Bí và vị trí của Đền An Tràng trong hệ thống di tích lịch sử của thành phố Hải
Phòng.
Sinh
hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Hằng
năm, lễ hội truyền thống được tổ chức từ ngày mồng 7 đến ngày 12 tháng Giêng âm
lịch với nhiều nghi lễ trang trọng nhằm tưởng nhớ công lao của các vị thành
hoàng. Điểm nhấn của lễ hội là nghi thức rước thần từ đền về đình để tế lễ. Đây
là hoạt động thể hiện sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân đồng thời góp phần
gắn kết cộng đồng làng xã. Trong những ngày hội, ngoài các nghi thức tế lễ còn
diễn ra nhiều hoạt động văn hóa dân gian như hát chèo, hát văn và đặc biệt là đấu
vật truyền thống.
Ngoài
lễ hội đầu xuân, nhân dân địa phương còn tổ chức các ngày lễ tiết tưởng niệm
các vị thần được thờ tại đền. Những hoạt động này góp phần duy trì bản sắc văn
hóa truyền thống, củng cố tình làng nghĩa xóm và phát huy đạo lý tri ân đối với
tiền nhân.
Với
những giá trị đặc sắc về lịch sử, kiến trúc, văn hóa và giáo dục truyền thống của
Đền An Tràng đồng thời nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy những giá trị tốt đẹp,
đền An Tràng đã được xếp hạng là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia tại
Quyết định số 57-VH/QĐ ngày 18/01/1993.